Cha Tôi
  Phan Đức Minh  

                                                                                                                                                                                                     
  Cha tôi sinh trưởng tại 1 làng, mà cũng là một Phố Quận thuộc Tỉnh Kiến An, sau này sát nhập vào Hải Phòng. Thế hệ của Cha tôi
cũng nhiều gian truân, điêu đứng không khác nhiều so với thế hệ của chính tôi (năm nay cũng đã 79 tuổi).
Cụ cho tôi ra thành phố Hải Phòng theo học bậc Trung Học dù rằng điều đó rất tốn kém đối với gia đình, nhưng với sự góp ý của Anh tôi
( hơn tôi chừng 6, 7 tuổi, cũng đã từng ra Hải Phòng theo học nhiều năm) Cụ cho rằng: thời nào cũng vậy, có học một chút, cuộc đời sẽ
tốt đẹp hơn. Thế nhưng, chẳng được bao lâu thì cuộc chiến Pháp-Việt nổ ra bắt đầu từ Hải Phòng, vào tháng 11-1946, trong khi chúng tôi
đang ngồi trong lớp. Với tuổi thiếu niên, nhưng tôi đã ý thức được bổn phận của một công dân đối với Tổ Quốc lúc lâm nguy, tôi xin phép
Cha Mẹ lên đường, theo các bậc đàn anh, trong đó có anh tôi, kháng chiến chống Pháp xâm lược, tùy theo khả năng và sức lực của mình.
Cha Mẹ, chị và các em tôi gạt nước mắt để tôi ra đi. Hai lần bị Tây bắt, lần đầu năm 1949, lúc 18 tuổi, nhưng được thả ngay, chỉ sau 1
đêm bị cùm chân ngoài trời. Lần đó cũng là nhờ có chút vốn liếng Pháp Ngữ và khả năng trình bày lý lẽ, thuyết phục được 2 viên chỉ huy
cao cấp nhất tại Đồn "Làng Hệ", huyện Thụy Anh, Tỉnh Thái Bình, 1 Trung Úy và 1 Đại Úy người Pháp, với giấy “ phóng thích “ cầm tay
đàng hoàng. Bị Tây bắt cùng với hàng chục người mà ngay ngày hôm sau một mình tôi đã được thả về, trình diện cơ quan, quả là 1 điều
đáng nghi ngờ và tai hại cho tôi sau này bởi vì cộng sản là thứ người "đa nghi Tào Tháo" nhất loài người. Lần thứ hai, năm 1951 lúc 20
tuổi, tôi bị Tây bắt giam dài lâu hơn, nhưng là lần tôi tự nguyện để cho Tây bắt trong 1 cuộc hành quân đại quy mô càn quét toàn thể 12
Phủ Huyện, Tỉnh thái Bình, do đích thân Đại Tướng De Lattre de Tassigny, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương chỉ huy trên
máy bay " Quan Sát " như L-19 của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa sau này, vì Tỉnh Thái Bình là hậu phương cuối cùng của Liên Khu 3
cộng sản, nơi đặt cơ sở chỉ huy, lãnh đạo các cơ quan, Ban, Ngành, như Đảng, quân sự, chính trị, hành chánh, chuyên môn, kỹ thuật của
Liên Khu cũng như các Tỉnh lân cận. Vì đã qua 1 lần bị Tây bắt nên tôi hiểu là: Tây bắt không đáng sợ cho lắm, nhưng là cơ hội để tôi từ
bỏ hàng ngũ kháng chiến do cộng sản lãnh đạo, khi tôi đã chọn con đường, lúc đó chưa hẳn là tốt nhưng không xấu, không ghê tởm bằng
tuân theo cộng sản để làm những điều tôi đã biết, đã rõ là vô cùng tàn bạo và kinh khủng. Vì công tác luân phiên, thay đổi ở các cơ quan
lãnh đạo ( nhờ sự can thiệp của anh tôi và có chút vốn chữ nghĩa ) rồi qua ngành Tuyên-Huấn, tôi được đọc tài liệu, báo chí nên biết Chính
Phủ chống Cộng sản, Quốc Gia Việt Nam đã được thành lập và Ông Bảo Đại là Quốc Trưởng, với sự trợ giúp của người Pháp. Tôi phải
chọn cách "để Tây bắt " vì 2 lý lẽ:
1/- Thoát khỏi hàng ngũ cộng sản mà không làm liên lụy đến những người thân yêu, bạn bè, nhất là người anh ruột thịt có chức vị lãnh đạo
đã hết lòng che chở cho tôi, nhưng không được như tôi mong ước. Anh tôi là con người cộng sản từ trước ngày " Tổng khởi nghĩa, cướp
chính quyền " 19 tháng 8-1945 nhưng không giống những người cộng sản khác: gốc tiểu tư sản, trí thức, ly khai gia đình nhưng luôn luôn
lo lắng cho gia đình, phái người hướng dẫn cha mẹ và các em di tản tránh họa chiến tranh, tới những vùng hậu phương an toàn, gửi gấm
vào những gia đình thật tốt, hết lòng giúp đỡ, nhất là che chở cho tôi trong những tháng ngày gian khổ, lăn lộn với chiến tranh, chui hầm,
rúc hố, dưới quyền chỉ huy của những người cộng sản cuồng tín, sắt máu, khác nhiều, không giống và dưới quyền của anh tôi.
2/- Tôi đã có cơ hội biết rõ 1 lần: người Pháp rất đáng sợ khi hai bên nổ súng, giao chiến, bắn giết nhau, nhưng khi đã bị họ bắt rồi thì nỗi
sợ đó không có gì đáng kể nữa. Điều này khác hẳn với trường hợp tù binh, quân địch bị cộng sản bắt được. Tôi phải nói thật là người Pháp
" văn minh, nhân đạo" hơn cộng sản rất nhiều trong việc đối xử với địch quân, tù binh bị họ bắt. Ở đây, tôi chỉ viết ra để nói lên sự hy sinh
cao cả, sự lo sợ vô biên của người Cha dành cho tính mạng đứa con của mình bị Pháp bắt hai lần trong giai đoạn chiến tranh ác liệt thì sẽ
ra làm sao, rồi cũng chính người Cha đó lặn lội, đường sá xa xôi nguy hiểm để đi tìm đứa con bị giam, bị tù ở đâu vì lần thứ hai, tôi bị bắt
cùng với hàng trăm ngàn thanh niên các loại của Liên khu 3 và Tỉnh Thái Bình, đông đến mức phải đưa tới các địa điểm tạm giam khắp nơi
trong mấy Tỉnh Thái Bình, Nam Đnh, Ninh Bình. Tôi bị tạm giam ở sân vận động Thái Bình không nhà cửa, vào mùa mưa 1 tháng, ngày ăn
1 bưã vào khoảng 1 giờ 00, nhưng đủ no, cơm gạo trắng với 1 món ăn, thường là cá khô kho mặn cho tiện, uống nước lấy ngay từ sông
Thái Bình lên, vì là nhánh sông Hồng Hà cho nên lúc nào cũng đục ngầu phù sa mầu hồng, thật là khổ sở, nhưng chuyện dài lắm, lúc khác
mới viết được. Qua các đợt thẩm vấn tôi "được" chuyển sang Thành phố Nam Định. May sao, khi Cha con gặp lại nhau thì đứa con đó vẫn
còn sống, chưa chết, không cụt tay, mất chân, thương tích đầy người như Cha tôi lo lắng. Trái lại đứa con ấy vẫn còn sống, sống trong
khung cảnh thoải mái, dễ chịu không thể ngờ được vì tôi với tuổi 21, được Trung Úy Halot, Chỉ Huy Trại, theo đề nghị cuả anh em, chỉ
định làm Trưởng Trại Giam (Chef de Camp) coi 500 tù chính trị với 1 phụ tá (Adjoint du Chef de Camp) và 10 Trưởng Toán (Chefs de
Groupes) do chính tôi chọn lựa trong số những anh em biết tiếng Pháp ít nhiều và tính tình tôi cho là được. Anh em sống với nhau, làm lao
động nhẹ nhàng, gọi là có như sửa đường Nam Đnh - Ninh Bình, dọn dẹp vệ sinh quanh vùng, làm 1 ngày, nghỉ 2 ngày, 9 toán đi làm, cứ
thay phiên nhau mỗi ngày 3 toán , toán thứ 10 ở trại lo nấu ăn, vệ sinh lặt vặt, linh tinh. Tiếng là đi tù nhưng tất cả chúng tôi thoải mái và...
dễ chịu hơn khi chưa vào tù, khi còn ở với cộng sản... Hi vọng gần đây tôi sẽ có dịp viết 2 chuyện: " Bị Tây bắt " và " Đi tù Tây " một cách
đầy đủ, nhiều chi tiết khó ai ngờ được..
Nói sao cho hết tình thương của 1 người Cha dành cho đứa con trai, mà tôi biết từ lúc còn nhỏ là người rất thương yêu tôi, rồi đứa con trai
đó lại sớm thoát ly gia đình để đi làm nghĩa vụ thiêng liêng: chống xâm lăng, bảo vệ Tổ Quốc. Có điều Cha tôi không thể hiểu được tại sao
tôi lại phải rời bỏ cái hàng ngũ có danh hiệu cao đẹp đó để ra đi, và tôi cũng chưa bao giờ nói với Cha tôi cái điều: tôi đã cố tình nằm lại
trong ruộng lúa ( ngày xưa lúa cao lắm, trên thắt lưng người lớn ), chờ cho Tây đến bắt, mặc dầu tôi đã được phát đầy đủ dụng cụ, phao
bơi để vượt qua sông, sang Huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương bên cạnh.
Ơn nghĩa báo đền công ơn Cha Mẹ thì tôi chỉ đơn giản nhớ được 2 trường hợp như thế này:
A/- Từ giã Cha Mẹ cuối năm 1946 đi kháng chiến chống Pháp, ăn và ở hoàn toàn nhờ vào dân chúng nơi cơ quan làm việc đặt tại đó. Lúc
ban đầu, do sự tuyên truyền, động viên vô cùng khôn khéo của cộng sản, hầu hết mọi người dân đất Bắc đều rất thương yêu những người
đi kháng chiến như chúng tôi. Họ sẵn sàng hi sinh tất cả cho "Cách mạng giải phóng dân tộc", chống xâm lăng bảo vệ Tổ Quốc. Có những
cụ già, khi rảnh rỗi, nói chuyện với tôi, một thanh niên mới lớn, có chút học hành, mà các cụ yêu thương như con cháu ruột thịt, luôn luôn
động viên tôi cố gắng trên con đường cứu dân, cứu nước chắc chắn còn dài và nhiều gian khổ. Có cụ còn vui vẻ nói rằng: Lão mong
muốn sau này có được cậu làm con rể của Lão, khi đất nước thanh bình… Các cụ làm sao hiểu được cuộc chiến tranh thực sự nó như thế
nào và đến bao giờ nó mới chấm dứt, chấm dứt rồi thì đất nước này sẽ ra làm sao, có được như các cụ mong ước hay không. Cuối năm
1948, những kẻ như tôi bắt đầu có quy chế lãnh lương chút ít. Tôi gần như không tiêu sài gì cả, ngoại trừ mua một cái đồng hồ đeo tay đầu
tiên trong đời, hiệu Niklès, mặt trắng, có đốm dạ quang ( lumineux/ luminous) ở khu Phố Đống Năm, Thái Bình, một Tỉnh hậu phương cuối
cùng của Liên Khu 3, dưới quyền Tư Lệnh của Tướng cộng sản Nguyễn Sơn và Phó Tư Lệnh Đại Tá Hoàng Minh Thảo, để biết giờ giấc,
thời gian, nếu không, ngày cũng gần giống như đêm và đêm cũng gần giống như ban ngày. Tôi để dành được một số tiền, rồi nhân 1
chuyến đi công tác, tôi xin được đi cùng, và tìm cách ghé thăm Cha Mẹ và các em tôi đang còn  tản cư, lánh nạn chiến tranh, do anh ruột
tôi điều động người liên lạc và hướng dẫn. Cũng vì cái chuyện...nặng tình với gia đình như thế mà anh tôi dù là bậc Thầy của Tổng Bí Thư
Nông Đức Mạnh bây giờ ( anh tôi gia nhập Đảng năm 1944, Nông Đức Mạnh gia nhập năm 1963), Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng đặt
anh tôi  ra ngoài lề kể từ cuộc cải cách ruộng đất và vụ tiêu diệt phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 tại đất Bắc, cùng nhóm bạn bè
chừng mươi người. Anh tôi, nói thông thạo tiếng Việt - Pháp - Anh - Nga đã từng được cử cầm đầu phái đoàn Hà Nội, đi tham quan, học
hỏi, rút kinh nghiệm tại khắp các nước cộng sản đã lớn mạnh như Liên Sô, Đông Đức, Pháp và các nước Đông Âu vv... Đi thăm các nơi,
trở về ngồi lại với nhau cả tháng làm bản tổng kết, nhận định những cái hay của thiên hạ để mình học hỏi, áp dụng. Thế là chết! Những cái
dở, cái dốt của Đảng mình lòi ra, và nhóm này cả chục người công lao... không biết nói thế nào cho đúng, bị coi là "có tư tưởng xét lại
nguy hiểm cho Đảng"... Anh tôi sống với số tiền hưu hàng tháng 800 ngàn đồng tiền Hồ, chị dâu tôi, được coi là " Hoa Khôi " trong một
đám cưới tập thể 5 cặp do Đảng tổ chức, cựu cán bộ khá cao tiền hưu 500 ngàn, cộng lại là 1 triệu 3 tiền Hồ, gần 100 đô la Mỹ, bằng
tiền... một con điếm, gái gọi loại tầm thường được lũ cán bộ hạng B, hạng C kêu đến khách sạn ở gần đó "nhẩy dù 1 phát"... Anh tôi qua
đời cách đây không lâu tại một căn nhà nhỏ xíu trong khu chung cư nghèo nàn, dành cho người về hưu, sau tai nạn trượt ngã tại mảnh sân
gạch ướt át trơn trợt, bể sọ, kéo theo cái chết của chị dâu bị xúc động mạnh đang khi đau tim nặng, mà hai người trông nom săn sóc chính
là anh tôi và đứa con trai đã mất việc khi anh tôi không còn tại chức... Sống thì nghèo nàn khổ cực như thế, mà khi chết thì đám tang của
cặp vợ chồng già này lại quá lớn vì thành phố đứng ra tổ chức, đàn em, học trò của anh tôi từ các nơi xa gần kéo về từ biệt người quá cố
được nhiều người mến phục. Những vòng hoa người ta không nhớ là đếm được bao nhiêu nữa... Cuộc đời là thế đó! Tôi gặp lại Cha Mẹ và
các em vào đầu năm 1949, sau hơn 2 năm xa cách. Thật là...mừng mừng, tủi tủi, những giọt nước mắt xót thương sao mà quên được! Tôi
móc mớ tiền trong túi chiếc áo vải mầu nâu gụ, thứ áo vải nhuộm nâu rồi nhúng vào nước bùn hòa tan với nước, phơi nắng cho ngả mầu
nâu đậm như pha...mầu tím Hoa Sim ( tôi mơ ước sẽ dịch ra ngoại ngữ bài thơ nổi tiếng “ Mầu Tím Hoa Sim “ cuả nhà Thơ Hữu Loan mới
qua đời, và từng là nạn nhân cuả vụ “ Nhân Văn Giai Phẩm – 1956 “ ), trông đẹp và dịu mắt hơn ( thứ mầu bị coi là mầu nâu... Tiểu Tư
Sản ) chẳng nhớ là bao nhiêu tiền, gói trong giấy báo, đưa cho Cha tôi: " Xin Thầy Mẹ cầm lấy cho con, để thêm vào nuôi gia đình, nuôi
các em..." Tôi nghẹn ngào không nói được nữa, trong lòng cảm thấy sót sa. Cha tôi mắt long lanh ướt, đưa gói tiền cho Mẹ tôi, không nói
một lời. Mẹ tôi lặng người, nước mắt rơi từng giọt... Mãi lúc sau, Mẹ tôi mới nói: "Gia đình ta làm ăn vất vả thật, Chị con còn có gánh hàng
xén, cả nhà quay sợi, quay tơ đem đi chợ bán, cũng sống được qua ngày. Thầy Mẹ và gia đình biết con ra đi là vất vả, gian lao, nguy hiểm.
Thôi, con cứ giữ lấy mà tiêu, có lúc cần đến..." Đúng lúc đó thì có người chạy vào nhắc tôi: " Đến giờ tập họp đi rồi, Chú Tư ơi!" Tôi chào
Cha Mẹ, vẫy tay với mọi người trong gia đình, định quay ra nhưng thình lình tôi dừng lại ôm chặt 2 đứa em nhỏ nhất, 1 gái, 1 trai, ba mái
đầu gục xuống, chụm lại với nhau, hai đứa em nấc lên từng tiếng, rồi tôi chạy vọt ra sân lẫn vào đám người đang chờ đợi.
B/- Trường hợp thứ hai, tôi có cơ hội giúp đỡ cha mẹ chút ít tiền bạc và thuốc men là hồi năm 1954, cuộc chiến Điện Biện Phủ sắp đến hồi
ngã ngũ. Lúc đó, tôi được gọi đi học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhưng tôi không đi vì còn quá mỏi mệt sau những tháng ngày long
đong, lận đận, nhưng muốn ở lại thành phố Nam Định thân yêu  ( đối với tôi, quá nhiều kỷ niệm khó quên ) , tôi phải nhập ngũ vào Đại Đội
3 Truyền Tin Việt Nam (3ème Compagnie de Transmissions Vietnamienne ) với tính cách Binh Nhì ( Soldat de 2ème classe / Private ) là
thứ lính thấp nhất. Đại đội nhưng gồm 600 quân, gấp rưỡi 1 Tiểu Đoàn ( Battalion ) đảm trách công tác truyền tin cho cả Quân Khu 3 (
Bắc Việt Nam ), và “ Quân Khu tả ngạn sông Hồng Hà cuả Pháp – Zône Sud du Nord Vietnam “.Đơn vị còn do Sĩ Quan người Pháp chỉ
huy, đang chuẩn bị chuyển dần sang cho Sĩ Quan Việt Nam. Đại Uý Miraucourt, chỉ huy Đại Đội rất thích tôi ngay sau khi tôi nộp đơn xin
nhập ngũ, được Trung Uý Cannet, Chỉ Huy Phó phỏng vấn một lúc rồi thấy cần phải mời Đại Uý Miraucourt, chỉ huy trưởng ra phỏng vấn
tiếp… Ông Đại Uý này nhắm cất nhắc tôi lên cấp chức thật mau bằng mọi cách, để thay thế Trung Sĩ Nhất ( Sergent - Chef ) Cordier, Văn
Phòng Trưởng đơn vị sắp hồi hương về Pháp. Chuyện đó đã đến thật mau ngoài sức tưởng tượng cuả hàng mấy trăm quân trong đơn vị.
Chỉ 4 tháng 16 ngày sau, tôi đã ngồi vào chỗ thay thế Sergent-Chef Cordier thật. Thế mạnh cuả một Đại Uý người Pháp chỉ huy đơn vị 600
quân, công tác bao trùm cả Bắc Việt Nam ( Tướng Tư Lệnh đã là người Việt ) và 1 Quân khu cuả người Pháp quả là đáng nể trong lúc này.
Tuy còn là Hạ Sĩ Quan nhưng tôi rất thân thiết với Ông vì Ông đã bổ nhậm tôi thay thế 1 Hạ Sĩ Quan người Pháp ( Sergent-Chef Cordier)
hồi hương về Pháp, để trông coi cho Ông một cái Văn Phòng quản trị 600 nhân viên về mọi mặt: tài chánh, quản trị, sổ sách, giấy tờ liên
lạc trên dưới, hàng dọc, hàng ngang. Ông luôn coi tôi như 1 người bạn rất thân, thường xuyên dạo chơi bách bộ chuyện trò với nhau trên
đường phố Nam Định những ngày chủ nhật, sau khi ông vào kiểm soát doanh trại xong, đậu xe Jeep ở trại, chớ không coi tôi chỉ là 1 nhân
viên dưới quyền, cấp bậc còn quá nhỏ. Có khi ăn trưa ở Phố thì Ông dành phần trả tiền và nói: Tôi là Đại Úy, lương tôi cao hơn, để tôi trả
tiền. Tôi đáp lại: " Đại Úy nói đúng, nhưng Đại Úy trả 2 lần thì cho phép tôi trả 1 lần, tôi mới dám ăn trưa với Đại Úy. Ông bằng lòng.. Ông
lại còn đề nghị cho tôi lên thẳng cấp cao nhất của hàng hạ Sĩ Quan là "Adjudant-Chef " để 6 tháng sau, trong thời kỳ chiến tranh, Ông đề
nghị cho tôi lên thẳng cấp Thiếu Úy thực thụ (Sous-lieutenant à titre définitif) chỉ vì một câu nói nửa đùa nửa thực của tôi: " Nếu tôi xin Đại
Úy cho tôi lập hồ sơ đi học khóa đặc biệt Sĩ Quan hiện dịch Đà Lạt, chỉ sau 9 tháng, tôi sẽ mang lon Chuẩn Úy Hiện Dịch (Aspirant de
l'armée active) thì Đại Úy tính sao? - Ông nói: "Anh cứ làm việc đi, khỏi cần đi học như thế, mà 9 tháng sau, anh không những lên Chuẩn
Úy, mà lên thẳng luôn Thiếu Úy, anh chịu không? Tôi sẽ thay mặt thượng cấp móc lon Thiếu Úy thực thu, 1 vạch vàng lên vai anh, anh
nghĩ sao?" - Tôi bảo: " Nếu Đại Úy đeo 3 sao trên vai thì tôi tin điều đó, nhưng tiếc rằng trên vai Úy mới có 3 vạch vàng thôi." Thế là Ông
ra lệnh cho Trung Úy Khôi, Sĩ Quan phụ tá, sau này lên Đại Úy và thay thế chức vụ của Ông khi Ông hồi hương trở về Pháp, lập ngay hồ
sơ đề nghị thăng cấp kiểu đó cho tôi. Cần lời phê, chữ ký, con dấu của cấp chỉ huy nào trong lãnh thổ Đệ Tam Quân khu hồi đó là đích
thân Ông chở tôi bằng xe Jeep của Ông tới trình diện cấp chỉ huy, Pháp cũng như Việt, kể cả Tướng Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu ở Hà
Nội. Hồi đó tiếng nói của 1 Đại Úy người Pháp, chỉ huy đơn vị 600 quân, phụ trách công tác truyền tin cho cả 1 Quân Khu Việt Nam, miền
Bắc Việt, luôn cả cái "Zône Sud du Nord Vietnam" và thêm cái "Subdivision Nam Định" của Pháp nữa, nó có trọng lượng to tát lắm. Vì
vậy, hồ sơ đề nghị thăng cấp đặc cách cho tôi tới cửa nào cũng đều lọt, với chữ ký và con dấu đỏ chót của cấp chỉ huy có thẩm quyền.
Chỉ khi phải gửi hồ sơ từ Nam Định vào Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn là Ông bảo tôi: "Anh chịu khó chờ, tôi cam đoan sẽ móc lon Thiếu
Úy thực thụ lên vai anh đúng như tôi đã nói... Một hôm, Ông lái xe, cùng tôi từ Nam Định lên Hà Nội công tác. Việc xong, Đại Úy
Miraucourt cho tôi nghỉ 2 ngày và nói: "anh muốn nghỉ ở đâu cứ cho tôi biết. Còn Ông sẽ nghỉ ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Pháp gần nhất. Tôi
muốn về Hải Phòng, nhà Chú Thím ruột của tôi buôn bán tại đây. Khi đưa tôi tới nhà xong xuôi, Ông chúc tôi vui vẻ và chào Chú Thím tôi
rồi quay ra. Cả nhà Chú Thím tôi đổ xô lại, 2 đứa em họ, kém tôi chừng 8 và 10 tuổi reo mừng vì lâu lắm anh em mới gặp lại nhau. Vừa lúc
ấy thì Cha tôi ở trên lầu, thấy ồn ào, đi xuống. Trời ơi! Cha con ôm lấy nhau nghẹn ngào... Sau khi chuyện trò một lúc, Cha tôi xin phép cả
nhà để hai cha con tôi nói chuyện riêng với nhau ở ngoài phòng khách. Cụ kể cho tôi nghe những chuyện bi thảm nơi quê nhà: đất cát,
ruộng vườn bị chính quyền "cách mạng" tịch thu hết, chỉ để lại cho 1 chút làm chỗ ở, ruộng nương tất cả biến thành của nhà nước, nhà
cửa tan hoang vì chính sách "Tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống" trước khi chiến tranh kéo đến, nhưng kỳ thực là chính sách
của "cách mạng ": mọi người đều phải    nghèo như nhau, trong khi nhà đất, ruộng vườn của gia đình tôi thuộc loại... hơi nhiều. Cha mẹ tôi
lo buồn rồi phát bệnh, tiền bạc đâu còn nữa, may nhờ có ông chú ruột tức là em ruột Cha tôi buôn bán khá giả ở Hải Phòng, hết lòng giúp
đỡ. Cụ nói trong tiếng nghẹn ngào: " mỗi lần thiếu quá, Thầy lại ra đây, Chú Thím giúp cho một ít, khi nào có thì trả lại sau, anh em ruột
thịt cứu giúp nhau là vậy." Tôi hỏi: "Thầy vay mượn của Chú Thím tới lúc này là bao nhiêu rồi ?" Cha tôi nói:         " Nhiều lắm con ơi!
Không biết bao giờ nhà ta mới trả nổi!"  Tôi lại hỏi: " Thầy nói nhiều là bao nhiêu?" - 4 ngàn 500 đồng, tính ra lúc đó hình như gần 5 lạng
vàng thì phải. Tôi nói: " Thầy khỏi lo! Con đí công tác, có mang theo trong cặp da 10 ngàn đồng, con chỉ giữ lại 500 đồng đề phòng phải
tiêu, còn lại bao nhiêu con xin đưa Thầy để trả xong cho Chú Thím, số còn lại Thầy đem về chi tiêu lo cho gia đình. Thầy Mẹ và các em
đỡ khổ." Bà Chị tôi đã lấy chồng cũng ở trong Huyện. Hai cha con tôi cùng vui mừng, cảm tạ Trời Đất đã cho gặp lại nhau trong hoàn cảnh
như thế này. Gương mặt già nua của Cha tôi đang lo âu, sầu khổ, bỗng rạng ngời, sáng hẳn lên. Cụ nói: "Gặp lại con, biết con vẫn còn sống
sau những tháng năm lưu lạc giang hồ, lại còn giúp cho Thầy Mẹ trả được món nợ tưởng như hết cả cuộc đời cũng không sao trả nổi. Con
đã cứu gia đình. Xin Trời Đất phù hộ cho con..." Tôi nắm tay Cụ dẫn ra gặp Chú Thím tôi và nói: " Cháu xin hết lòng cảm ơn Chú Thím đã
cứu giúp gia đình Thầy Mẹ con trong những ngày khó khăn. Nay con xin phép gửi lại Chú Thím số tiền Thầy con đã vay mượn từ mấy
năm nay. Xin Trời Đất phù hộ cho Chú Thím và các em." Cha tôi nói: "Thật cảm ơn Chú Thím, tôi nghĩ không biết đời mình liệu có cách
nào trả lại Chú Thím được không. May mà gặp được cháu ở đây, giúp gia đình tôi trả lại sự giúp đỡ của Chú Thím." Chú tôi quay ra hỏi:
"Cháu trả hết Chú Thím thế này, có còn đưa cho Bác được ít nhiều để về quê làm ăn sinh sống hay không?" Cha tôi đỡ lời: " Nói thực với
Chú Thím, cháu nó giúp tôi trả hết nợ cho Chú thím, còn lại cháu đưa hết cho tôi 5 ngàn, đủ sức làm ăn sinh sống qua ngày ở quê làng
mình rồi..." Mọi người nhìn nhau chẳng biết nói chi thêm nữa, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng là niềm hạnh phúc bất ngờ đã đến với tất cả mọi
người chúng tôi. Có những dòng nước mắt long lanh, xúc động, cảm thông đấy ắp tình người thương yêu và bác ái, trong lúc 2 đứa em
con Chú thím tôi đứng nhìn ngơ ngác, lặng yên... chẳng hiểu chuyện gì
Hôm nay, trên đất Mỹ, ngồi trước bàn máy, tôi viết mấy dòng này kèm theo bài thơ" My Father " gửi đi khắp bốn phương trời, đến với mọi
người Cha, trong đó có cả Cha tôi đã xa rời cõi thế khi không có tôi ở gần, khi tôi đi tù cải tạo trên núi trên rừng hiểm độc âm u, nhưng tôi
cũng đã có 1 lần, lần đầu và chắc cũng là lần cuối, sau hơn nửa thế kỷ cách xa làng xóm, năm 2000, về bên mộ của Cha Mẹ tôi, đã được
xây đắp cẩn thận
để thắp vài nén hương và nói lên những lời cầu nguyện...                
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!

Hồn Nước, tờ báo của tri thức. Được phổ biến đến Độc Giả qua mọi miền đất nước: Hoa
Kỳ - Pháp - Úc - Canada - Việt Nam …
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước, thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc@gmail.com - Or: hiepnguyen930@yahoo.com
                                                                                                    
       Cell:   678-770-1497
Chủ Trương:
Tạp Chí
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
                                                                                                                   
               

Verse :

                           
 My Father
                                 ***
(Affectionately  offered to all fathers, especially
Vietnamese ones who have been struggling for    
Democracy, Freedom and Happiness of Vietnamese Country and People ).
                                                             *
*  I remember my native village
Surrounded by green bamboo hedges,
Ornamented with columns of white-blurring smoke,
At nightfall, rising slowly.

*  I remember the winding village road,
On which herds of cattle
Were coming back to their stables
When the church bell was heard.

*  I left  my village at the age of fifteen,
Separating from my parents and family
To go studying at Haiphong City.
When the war broke out, getting harder and  harder,
I followed the elders  to fight against French aggressors.
Twice, captured by the enemies, I knew
The person, who made patiently great  efforts
To find out where I had been detained, was my father.                                      
                         

*  With the spirit of Confucianism,
He taught me how to live with dignity
In  all circumstances of life, even in misery.
Thanks to my father's teachings,
I've overcomed almost everything
To survive regardless lots of challenges
Occuring continuously in my rough lifetime.

*  During 78 years of living in this world,
I never forget his image and teachings
That help me overcome almost everything.
Sometimes, seemingly I still hear his words:

" My son ! You ought to live with dignity! "  
Always I've been proud of my father.
When growing up. I haven't  done yet
A tiny bit for him as response, unfortunately !
                              *
                     San Diego, California
                     Phan  Duc  Minh
(Member of  The International Societry of Poets)
                                 ***
Summarily translated into French language :

                     
  Mon Père
                             *
(Avec affection, offert à tous les pères, en particulier
les Vietnamiens qui ont lutté pour la Démocratie, la Liberté
et le Bonheur de leur pays et leur peuple ) .
                            *
* Je me souviens de mon village natal
Entouré par des haies de bambou vert,
Ornée de colonnes de fumée blanche-flou,
A la nuit tombante, une lente progression.

* Je me souviens de la route sinueuse du village,
Sur laquelle les troupeaux de bétail
Revenaient à leurs écuries
Lorsque la cloche de l'église a été entendue.

* J'ai quitté mon village à l'âge de quinze ans,
Séparé de mes parents et la famille
Pour aller étudier à Haiphong City.
Lorsque la guerre éclata, devient de plus en plus difficile
J'ai suivi les anciens pour lutter contre agresseurs français.
Deux fois, capturé par les ennemis, je savais
La personne qui fait des efforts patiemment grands
Pour savoir où j'avais été retenu, était mon père.

* Avec l'esprit du confucianisme,
Il m'a appris à vivre dans la dignité
Dans toutes les circonstances de la vie, même dans la misère.
Merci aux enseignements de mon père,
J'ai surmonté presque tout
Pour survivre indépendamment de nombreux défis
Survenant continuellement dans ma vie agitée.

* Pendant 78 ans vivant dans ce monde,
Je n'oublierai jamais son image et les enseignements
Qui m'aident à surmonter à peu près tout.
Parfois, apparemment J'entends encore ses paroles:
« Mon fils, tu dois vivre dans la dignité! "
J'ai toujours été fier de mon père.
En grandissant. Je n'ai pas encore fait
Un tout petit peu pour lui que de la réponse, hélas!
                          *
                         San Diego, California
                          Phan Duc Minh
(Membre de la Société Internationale des Poètes)
                                      ***

Phỏng dịch:         
    Cha Tôi
                                    *
(Mến tặng  tất cả những người Cha, nhất là những
người Cha Việt Nam đã đấu tranh vì Dân Chủ, Tự
Do và Hạnh Phúc cho Đất Nước và Dân Tộc mình )
                                   *

  * Làng xưa gợi nỗi vấn vương,
Hàng tre xanh ngắt, lớp sương mịt mờ.
Hoàng hôn phủ xuống như mơ,
Khói lam lưu luyến vật vờ bay lên.
 * Nhớ sao xóm nhỏ bình yên,
Từng đàn mục súc vẫn quen lối về,
Quanh co một nẻo đường quê,
Chuông đâu văng vẳng tiếng nghe vang rền.
 * Ra đi từ buổi thiếu niên,
Cách lià cha mẹ, anh em, gia đình,
Ra thành làm cậu học sinh,
Chiến tranh bùng nổ, thân mình phải đi,
Thân trai gian khổ xá gì,
Bước theo huynh trưởng cũng vì núi sông.
Đôi phen giặc bắt cùm gông,
Chính Cha lặn lội hết lòng tìm con.
 * Tuổi Cha ngày một héo mòn,
Nhưng luôn dậy bảo; phải luôn là người
Sống sao xứng đáng ở đời,
Tổ Tiên, dòng dõi mấy đời Nho Gia.
Nhớ lời khuyên dậy cuả Cha,
Cuộc đời chìm nổi vượt qua mọi điều.
Gian truân cực khổ bao nhiêu,
Vinh quang, hạnh phúc càng nhiều về sau.
 * 78 năm, tóc đã bạc mầu,
Tai tôi còng vẳng những câu cuả Ngưòi :
Làm trai sống ở trên đời,
Sao cho xứng đáng làm người nghe con !
Tôi luôn mang giữ trong hồn
Bóng hình Cha đã thương con suốt đời.
Phần tôi, nghĩ lai : Chao ơi !
Chưa đền đáp trả thì người còn đâu !
                     *

              San Diego,  California
              Phạm  Ngọc Nhiễm