VÒNG NGUYỆT QUẾ CHO NHỮNG
TẤM LÒNG HOÀI CỔ THIẾT THỰC

Giáo Sư  Đàm Trung Pháp

Kính thưa  quý vị,

Tôi xin được cảm tạ Viện Việt Học và ban tổ chức buổi sinh hoạt văn học ngày hôm nay đã cho tôi vinh dự được hầu
chuyện quý vị trong một khung cảnh vừa trang trọng vừa đầm ấm. Sự hiện diện đông đảo của quý vị quả thực đã làm
cho ban tổ chức cũng như bản thân tôi rất cảm kích và lên tinh thần! Tôi tin chắc rằng cuộc gặp gỡ hôm nay của
chúng ta sẽ là một kỷ niệm đẹp mang nhiều ý nghĩa, vì đây là dịp chúng ta cùng nhau nhìn lại dấu vết văn học của
người xưa, qua hai công trình to lớn vừa hoàn tất năm nay (2009) của những học giả, những chuyên viên điện toán,
những thiện nguyện viên, những mạnh thường quân đã hợp tác cùng Viện Việt Học.
Hai công trình to lớn đó là cuốn TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM TRÍCH DẪN của các đồng tác giả Nguyễn Hữu Vinh, Đặng
Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, và Trần Uyên Thi, và bộ DVD-
ROM NAM PHONG TẠP CHÍ do trên 50 chuyên viên điện toán, thiện nguyện viên cư ngụ tại nhiều nơi khác nhau
trên nước Mỹ cùng góp tâm, góp tài, góp sức để hoàn tất.
Thực khó kiếm ra một từ ngữ nào trong tiếng Việt tương đương với thành ngữ tiếng Mỹ “labor of love” để giải thích lý
do cho sự đóng góp to lớn bất vụ lợi của những đồng hương có thiện chí tuyệt vời nêu trên. Ở đủ mọi lứa tuổi và cư
ngụ nhiều nơi tại hải ngoại, họ là những tấm lòng hoài cổ thiết thực đáng được đề cao vì đã đóng góp to lớn vào nỗ lực
cụ thể để bảo tồn, phát huy và quảng bá văn học Việt Nam. Họ xứng đáng được chúng ta trao một vòng nguyệt quế,
với lòng biết ơn hôm nay và mãi mãi.
Nếu có người thắc mắc hỏi tôi tại sao chữ Nôm khó học, khó nhớ, khó viết (vì nó là thứ chữ mượn chữ Hán để phiên
âm tiếng Việt) mà chúng ta vẫn phải làm quen, vẫn phải tra cứu, thì tôi xin mượn lời cố học giả Trần Văn Giáp, tác giả
cuốn LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ CHỮ NÔM biên soạn năm 1969 (được giáo sư Lê Văn Đặng thực hiện văn bản năm
2002 ở Mỹ) để trả lời họ như sau: “Chữ Nôm đã là phương tiện ghi chép lại truyền thống thơ ca, văn học, sự tích anh
hùng, vân vân, của dân tộc Việt Nam từ mấy ngàn năm xưa, từ Bắc chí Nam, từ giáp biên giới Trung Quốc đến mãi
bờ biển Hà Tiên và còn ra ngoài đấy nữa. Cho nên chữ Nôm tuy hiện nay không còn thông dụng nữa, vì khó đọc khó
viết, mà chúng ta vẫn cứ phải nghiên cứu để thu lượm lấy vốn cổ của văn hóa dân tộc.” Thực khó lòng nghĩ ra một lý
do chính đáng hơn lời cụ Giáp, khi chúng ta tin tưởng rằng thế nào cũng còn những tài liệu văn học viết bằng chữ
Nôm chưa hề được chuyển âm sang quốc ngữ.
Vốn liếng chữ Hán tự học của tôi thì tạm đủ để hiểu các tiêu đề lớn trên báo chí Hoa ngữ hoặc tên các bảng tiệm nhà
buôn hay thực quán của người Tàu. Nhưng vốn liếng chữ Nôm của tôi mà nói ra thì ngại ngùng lắm, vì tôi chỉ biết đủ
vài chữ để làm thí dụ trong bài giảng về hệ thống các chữ viết của lớp ngữ học nhập môn tại Texas Woman’s
University. Nếu các sinh viên Mỹ lắc đầu ngao ngán về sự phiền toái của lối viết chữ Nôm thì mấy người sinh viên du
học gốc Đài Loan tỏ ra ngạc nhiên lắm về lối viết này và tò mò muốn tìm hiểu thêm. Sau buổi học tôi cho họ xem
mấy dòng thơ Việt viết bằng chữ Nôm. Trong khi họ chới với không hiểu ất giáp gì cả thì ông thầy người Việt của họ
rất vui trong lòng với ý nghĩ “chính nhờ vào lối viết đặc thù này mà Việt Nam không bị Hán hóa đấy!”
TĐCNTD được soạn thảo bởi một ban biên tập tài ba. Theo sự hiểu biết của tôi, mỗi vị đều sử dụng sở trường của
mình trong công trình chung to lớn này. Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, một nhà Nôm học từng dạy văn chương Việt Nam
tại Đại Học Văn Khoa Saigon, sưu tập và chuyển sang quốc ngữ nhiều bản Nôm được trích dẫn trong tự điển. Giáo sư
Lê Văn Đặng, một nhà Nôm học kiêm chuyên viên điện toán, với tư cách “fonts designer” đã khắc các chữ Nôm
chưa có trong Unicode Standard dùng trong cuốn tự điển này. Đồng soạn giả Nguyễn Hữu Vinh, một tiến sĩ kỹ nghệ
tại Đài Loan, dò lại những chữ Nôm mới khắc đó để tránh trùng hợp với chữ đã có và chịu trách nhiệm chuyện in ấn
cuốn sách tại Đài Loan. Đồng soạn giả Đặng Thế Kiệt, một chuyên gia về tin học tại Paris, đã đại diện Viện Việt Học
sưu tầm tài liệu về chữ Nôm tại Bibliothèque Nationale de Paris và gửi qua Mỹ. Đồng soạn giả Nguyễn Doãn Vượng
phụ trách kỹ thuật và trình bầy, sắp xếp các mục từ cho hợp lý và làm dễ dàng cho công việc các đồng soạn giả chia
nhau đánh máy nội dung vào các mục từ. Đồng soạn giả Nguyễn Ngọc Bích, một nhà nghiên cứu văn học uyên bác
và quảng giao, phụ trách những công việc giao tế và quảng bá công trình. Và sau hết, đồng soạn giả “hậu sinh khả
úy” Trần Uyên Thi đã thiết kế được một bàn gõ chữ Nôm, nhờ vào đó mà việc đánh máy chữ Nôm được mau lẹ.
Các  đồng soạn giả cũng ghi nhận sự đóng góp quý báu của ông Alexandre Lê (nguyên quản thủ thư viện Trường
Viễn Đông Bác Cổ Paris) đã cung cấp một nguồn tài liệu rất phong phú về chữ Nôm, và của ông Đỗ Quốc Bảo (một
chuyên gia điện toán tại Đức Quốc) đã tích cực hợp tác trong việc chế tạo hai bộ chữ (fonts) Hán Nôm A và Hán
Nôm B.Tận dụng kỹ thuật điện toán tân kỳ và  kết hợp hoàn mỹ sở trường của các đồng soạn giả, ban biên tập sau
nhiều năm kiên trì hoạt  động đã hoàn tất và cho trình làng một công trình tuyệt diệu.  Vì được biên soạn theo một
phương thức khoa học, minh bạch, nhất quán, với những phần chỉ dẫn khúc chiết, TĐCNTD dễ dùng và không làm
người sử dụng sờn lòng nản chí. Thêm vào đó, những câu trích dẫn từ nhiều áng văn chương chữ Nôm khác nhau
vừa làm cho ý nghĩa mỗi mục từ sáng tỏ trong văn cảnh vừa cho người tra cứu thưởng thức văn chương nước nhà
một thể. Và chuyện thưởng thức văn chương này đáng kể lắm, vì qua nhiều đoạn trích dẫn trong cuốn TĐCNTD,
người đọc thấy như mình được ngắm vẻ đẹp xa xưa, lắng nghe quá khứ thì thầm, để rồi hòa mình vào nếp sống của
những thế hệ trước.
Có lẽ cái khó khăn nhất của người tự học chữ Hán, chữ Nôm, hoặc quốc tự (kokuji) hay hòa tự (waji) của người Nhật
là khi người ấy gặp một chữ mới và phải kiếm chữ ấy trong tự điển. Và mỗi khi kiếm nó không ra thì buồn bực lắm,
như tôi đã nhiều lần cảm thấy trong tiến trình tự học chữ Hán! TĐCNTD đối phó với vấn đề này khá hữu hiệu, qua
“bảng tra theo bộ thủ” và “bảng tra theo tổng số nét.” Cách dùng cả hai bảng tra đều được giải thích cách rõ ràng
từng bước một. Xin đưa ra đây một thí dụ. Tôi thấy đâu đó cái chữ là lạ này (bên trái là bộ “khuyển” và bên phải là
chữ “sơn”) không thể kiếm ra trong các tự điển Hán-Việt của tôi, và do đó tôi đoán nó phải là một chữ Nôm. Mở
TĐCNTD ra, tôi kiếm bộ “khuyển” trong “mục lục bộ thủ” ở cuối cuốn sách thì được biết bộ “khuyển” ở trang 1606.
Mở trang 1606 đó ra thì tôi tìm thấy cái chữ là lạ đó, và tên nó là “săn”! Cạnh chữ “săn” này là số trang 1111, nơi nó
sẽ được định nghĩa qua văn cảnh chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Quả nhiên, trong trang 1111, tôi hiểu nghĩa chữ “săn”
đó qua câu trích dẫn: “Trẻ thơ ví tựa cỏ sương, Nếu không săn sóc khôn phương sống nào” (trích dẫn từ cuốn Thị
Kính, tức là Quan Âm Diễn Ca Toàn Truyện, xuất xứ từ Bửu Hoa Các tàng bản, niên đại văn bản Bính Thân [1896], tờ
24a). Tôi cũng thử tìm chữ “săn” 6 nét này qua “bảng tra theo tổng số nét” thì được biết nó thuộc bộ 94, tìm thấy ở
cột đầu trang 1635, bên cạnh cũng ghi trang 1111 là nơi nó được định nghĩaThú  thực, tôi vốn e dè với chữ Nôm vì
nó đòi hỏi quá nhiều trí nhớ, nhưng sau vài tuần làm quen với cuốn tự điển tân kỳ ngót 1,700 trang đầy kỳ hoa dị thảo
mà lại dễ dùng này, mối thiện cảm của tôi với chữ Nôm đã chớm nở. Tôi hoàn toàn đồng ý với niềm tin sau đây của
ban biên tập: “Quyển TĐCNTD không phải chỉ cho các nhà Nôm học, mà cho cả những người không biết chữ Nôm
nhưng quan tâm đến tiếng Việt và thơ văn Việt Nam cũng sẽ tìm thấy ở đây một kho tàng ngữ văn của người Việt
Nam trải dài 7 thế kỷ, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20.”
Tôi thành tâm bái phục công sức và thiện chí không thể đo lường được của ban biên tập trong khi họ thâu thập các
văn bản chữ Nôm từ các thư viện trên thế giới hoặc từ các tư liệu các nhà nghiên cứu, chọn lọc một số văn bản nòng
cốt dùng làm cơ sở để nhận diện từng chữ Nôm một qua các thí dụ được trích dẫn với ghi chú xuất xứ chính xác, chế
tạo kiểu chữ Nôm đúng tiêu chuẩn mã quốc tế, thiết kế một bàn gõ để đánh chữ Nôm, và gõ nhập chữ vào tự điển
dạng điện tử. Khi nhận được bộ DVD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ từ Viện Việt Học vài tuần trước đây, tôi bỗng
thốt lên hai câu mừng rỡ của Thúy Kiều khi giấc mơ nàng ấp ủ từ lâu nay đã thành sự thực -- lúc Từ Hải cho “mười
vạn tinh binh” đến “rước nàng nghi gia”: “Đến bây giờ mới thấy đây / Mà lòng đã chắc những ngày một hai.” Vâng
quả thực, tôi mừng rỡ như thế với thành quả chói lọi của dự án văn học lớn lao này  Khi đang học ban tú tài ở quê nhà
nửa thế kỷ về trước, trong số các sách gối đầu giường của tôi là cuốn “Việt Nam Văn Học Sử Yếu” và cuốn “Việt
Nam Thi Văn Hợp Tuyển” của giáo sư Dương Quảng Hàm.  Trong cuốn “Sử Yếu” giáo sư Hàm đã viết tích cực về
học giả Phạm Quỳnh và phái Nam Phong (NP) khiến người đọc mến mộ cả người lẫn báo. Theo ông thì “Phạm
Quỳnh nghiên cứu ở các sách rồi viết ra những bài chuyên khảo về học thuật Âu-Tây như Văn-minh luận (NP số 42),
khảo về các luân lý học thuyết của Thái-tây (NP số 92 trở đi) … hoặc về học thuyết Á đông như Phật giáo lược khảo
(NP số 40) … hoặc về văn học nước ta như tục ngữ ca dao (NP số 46), văn chương trong lối hát ả đào (NP số 69),
Việt Nam thi ca (NP số 64).” Toàn là những đề tài cực kỳ lôi cuốn, chẳng khác gì “mỡ để miệng mèo” cho biết bao
học trò ham học hỏi như tôi lúc đó! Nhưng chẳng tìm đâu ra những số NP mà giáo sư Hàm liệt kê để thỏa lòng đọc
hết những bài viết hấp dẫn đó. Tiếc thay, vì số trang hạn chế, cuốn “Hợp Tuyển” của giáo sư Hàm chỉ đăng vài ba bài
trích ra từ NPTC như “Cách lễ phép của người mình”, “Triết lý của đạo Phật”, và “Tính cách chung của văn chương
Pháp.”
Giờ  đây, trễ còn hơn không, ngồi trước màn ảnh máy điện toán tôi có thể đọc được bất cứ bài nào trong NPTC một
cách dễ dàng và thoải mái! Cả một khung trời văn học, nghệ thuật, xã hội, chính trị của thời 1917-1934 đến với tôi
qua bộ DVD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ. Mười bẩy năm đó thuộc thế hệ cha mẹ, chú bác ruột thịt của tôi.
Với tấm lòng tha thiết tìm hiểu nếp sống của người xưa, tôi bồi hồi đọc từng trang NPTC theo thứ tự thời gian. Đọc
đến đâu lại nghĩ đến lúc ấy bậc sinh thành của mình đang ở đâu, đang làm gì, đang sinh sống ra sao, và nhất là có đọc
những trang NPTC mà tôi đang đọc không? Tôi cố tình đọc chậm chỉ vì tôi muốn giữ lấy niềm thương nhớ ấy dài lâu
hơn trong lòng Tôi ngạc nhiên trong thích thú với lối văn biền ngẫu du dương êm tai lạ thường của cụ Nguyễn Bá Trác
trong số NP đầu tiên. Để giới thiệu ngọn gió Nam Phong với độc giả, cụ kết luận trong mục “Văn Uyển: Ngọn Gió Hồ
Gươm” như sau: “Trong trời đất cũng nhiều hạng gió: ngọn gió cuồng thì cây rung lá cuốn, ngọn gió bấc thì cỏ lạnh
hoa tàn. Êm đềm thay! Ngọt ngào thay! Cái ngọn gió này, trong khi chim hót, thuyền ngâm, sen day, sóng dợn, cũng
đủ khiến cho người nóng nẩy thì mát mẻ tấm lòng, người ngơ ngẩn thì tỉnh tươi giấc mộng. Có kẻ bảo rằng: gió Hồ
Gươm mát là mát vì ngọn gió Nam Phong!”
Số Tết 1918 (Mậu Ngọ) hấp dẫn lắm, xuất hiện vào thời điểm cha tôi phải từ bỏ giấc mơ làm ông nghè ông cống để
chuyển sang học chữ quốc ngữ và chữ Pháp trước khi trở thành một nhà giáo tiểu học. Số báo đặc biệt này đầy ắp
mọi mục như văn, thơ, phú, chuyện, hát nói, văn sách, thơ dịch từ chữ Hán và chữ Pháp, vân vân, như chủ bút Phạm
Quỳnh tâm tình với bạn đọc: “Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn,
rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc-bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã-
vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh
ngũ sắc, mỗi thứ một ít … Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quả năm mới này.” Cái “quà ăn chơi” ấy thực
vui như Tết, với nhiều đóng góp của các văn nhân lẫy lừng tên tuổi. Bài nghị luận “Sợ Vợ” của Nguyễn Khắc Hiếu có
đoạn thực dí dỏm: “Tớ vốn là một kẻ sợ vợ, nhưng chưa có mà sợ; chưa có mà sợ, nhưng có cũng tất sợ; có cũng tất
sợ, nhưng chưa biết sợ vào hạng nào.” Bài “Thơ Pháo” của cụ Yên Đổ thấm thía biết bao: “Giấy xanh giấy trắng ở tay
người / Bao nả công trình tạch cái thôi / Cao lắm lại càng sơ xác lắm / Cũng mang một tiếng ở trên đời.”  Câu đối Tết
của ông Tú Tài Xương chua chát làm sao: “Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo / Nhân tình trắng thế lại bôi vôi.” Nhưng
ông Tú Tài Xương cũng hóm hỉnh biết mấy với bài “Ngày Tết tặng Cô Đàu”: “Mừng xuân mừng quý khách / Khi vui
lọ đàn phách / Chuyện nở như gạo vàng / Chuyện rai như chão rách / Đổ cả bốn cột giường / Siêu cả một bức vách.”
Tôi nao nức đọc bài viết mở đầu cho NPTC số 86 (tháng 8-1924) mang tựa đề “Lễ Kỷ Niệm Cụ Tiên Điền” (Mồng 10
tháng 8 – 8 Septembre 1924). Chương trình buổi lễ lịch sử này được Hội Đồng Trị Sự Hội Khai Trí duyệt y như sau:
(1) Ông Phạm Quỳnh thay lời văn học ban diễn thuyết về mục đích cuộc kỷ niệm, (2) Ông Phạm Quỳnh diễn thuyết
bằng tiếng Pháp cho các hội viên Tây nghe, (3) Ông Trần Trọng Kim diễn thuyết về lịch sử cụ Tiên Điền và văn
chương Truyện Kiều, (4) Kép Thịnh và đào Tuất kể Truyện Kiều, và (5) Ả đào hát bài ca kỷ niệm do ông Nguyễn
Đôn Phục Mới chỉ xem cái chương trình buổi lễ với hai diễn giả vang dội tiếng tăm và kết thúc bằng phần trình diễn
văn nghệ qua lối kể truyện và hát ả đào tôi đã thấy lòng vui như hội và có thể mường tượng được mức xôn xao nao
nức của các tham dự viên. Tôi từng ước ao được đọc trọn bài nói chuyện của Phạm học giả ngày hôm ấy từ mấy
chục năm nay, nhưng mãi giờ đây mới toại nguyện! Mối lo sợ của ông về sự có thể mai một của Truyện Kiều làm tôi
bàng hoàng. Xin cùng nghe lời tâm huyết của vị chủ bút NPTC lúc ấy mới 32 tuổi đời: “Văn chương người ta thiên
kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh,
vừa là truyện, vừa là Thánh Thư Phúc Âm của cả một dân tộc, ví lại khuyết nốt thì dân tộc ấy đến thế nào? Than ôi!
Mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng sốt, rụng rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống
vỡ tan tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm ‘Lơ
thơ tơ liễu buông mành / Con oanh học nói trên cành mỉa mai’  hay là ‘Phong trần mài một lưỡi gươm / Những
phường giá áo túi cơm xá gì’ bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhẩy muốn múa, muốn reo,
muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, có gì mà lo, có
gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!” Khi đọc lời tâm huyết ấy của ông chủ bút NPTC tôi bỗng xót xa trong lòng và
nghĩ đến nhận định của nhà văn Phạm Quốc Bảo trong phần cuối của bài “Yếu Tố Cốt Lõi Của Tiếng Việt” trong
Tuyển Tập HƯƠNG ĐÊM (2008, trang 193-194), một nhận định mà tôi tâm đắc: “Nhưng tiếng ‘kêu cứu’ của ông
cũng phải chìm lỉm. Vì từ đó đến nay, người ta đa số đã mặc nhiên dùng căn bản chính trị mà ‘lạm’ bàn về phong trào
này nên hầu hết đã nhìn sai lạc đi mà không làm nổi bật lên được đặc điểm chính là cái nhiệt tâm đứng đắn của tác giả
Phạm Quỳnh, khi ông đề cập tới yếu tố cốt lõi là tiếng Việt trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.” Còn cả hàng ngàn
hàng vạn hoa thơm cỏ lạ khác nữa của những ngày tháng cũ đang chờ đón quý vị trong vườn hoa văn học rực rỡ
mang danh Nam Phong Tạp Chí.
Bộ  DVD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ quý vị đang có trong tay là một món quà văn học để đời, một thứ “của tin
gọi một chút này làm ghi” mà tiền nhân để lại cho chúng ta. Món quà vô giá này chỉ được thành tựu sau những cố
gắng phi thường của những tấm lòng hoài cổ thiết thực đáng yêu đáng quý. Tôi chóng mặt khi đọc về những thử
thách dễ sợ mà ban thực hiện dự án phải đương đầu. Trước hết là việc phân chia nhiệm vụ đi tìm kiếm khoảng 3,500
trang thiếu hụt trong bộ NPTC mà gia đình cố học giả Phạm Quỳnh đã ưu ái tặng Viện Việt Học. Công việc tìm kiếm
này như thể đáy bể mò kim, vì ngay các thư viện đại học lớn như UCLA, UC-Berkeley, Washington (Seattle), Cornell
… cũng không giúp được nhiều. Vậy mà nhờ vào sự kiên trì của các ân nhân và thiện nguyện viên, ban thực hiện dự
án DVD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ đã kiếm ra hầu như tất cả những trang thiếu hụt nói trên. Sau đó là những
công tác cực kỳ mất thì giờ và tỉ mỉ của khối kỹ thuật, khi họ chuyển các trang báo vào DVD để rồi thực hiện E-
BOOK. Mỗi trang E-BOOK mất 45 phút mới xong. Lấy 45 phút nhân lên với tổng số 35,000 trang thì thành ra 26,250
giờ đồng hồ. Để cho dễ hiểu, số thì giờ này đòi hỏi lao tác của 3 chuyên viên làm việc 8 giờ mỗi ngày liên tục trong 3
năm rưỡi trời!
Tôi xin được tỏ lòng ngưỡng phục và tri ân những cố gắng phi thường của ban thực hiện dự án DVD-ROM NAM
PHONG TẠP CHÍ, gồm có trưởng dự án Nguyễn Minh Lân, trưởng dự án Nguyễn Tuấn Khanh, phụ tá trưởng dự án
Nguyễn Chí Thông, trưởng khối kỹ thuật Châu Hữu Hiền và các chuyên viên điện toán, và các vị trong ban tìm tài liệu
và ban trình bầy. Lòng biết ơn của tôi cũng xin được gửi tới những vị hằng tâm hằng sản đã rộng lòng giúp đỡ cho
ban thực hiện dự án.

Trân trọng kính chào quý vị và cảm tạ quý  vị đã lắng nghe.

CƯỚC CHÚ: Giáo Sư Đàm Trung Pháp là một diễn giả trong buổi ra mắt cuốn TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM TRÍCH DIỄN
và bộ DVD-ROM NAM PHONG TẠP CHÍ do Viện Việt Học tổ chức tại Houston, Texas ngày 15-11-2009. Địa chỉ
Viện Việt Học: 15355 Brookhurst Street, Suite 222, Westminster, CA 92683. Website: http://www.viethoc. com. Điện
thoại: 714-775-2050.
Tạp Chí
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết