CUNG kính mời nhau chén rượu nồng
CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong
TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ
XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!
Cung Chúc Tân Xuân
Tạp Chí

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Được phổ biến đến Độc Giả qua mọi miền đất nước:
Hoa Kỳ - Pháp - Úc - Canada - Việt Nam …
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com
Or:     hiepnguyen930@yahoo.com
Cell:   678-770-1497
BỐN MẮT CHỜ XUÂN

Bài hoạ 1

Nỗi niềm tâm sự trải đêm đông,
Lạnh lẽo sầu khơi bếp sưởi hồng.
Cố quốc ấy ai ngồi ngóng đợi,
Tha phương này kẻ đứng chờ trông.
Năm tàn rụng mấy mùa hoa thắm,
Tháng lụn vơi bao suối lệ nồng.
Bỡi cõi trời đông xuân đến muộn,
Nên đời em mãi chịu long đong.
Uyên Trang
MƯA LỆ XUÂN

Xướng
Đón xuân đất khách vẫn còn đông,
Không có đào mai, chẳng pháo hồng.
Tuyết đổ bao mùa chàng ngóng đợi,
Sương rơi mấy độ thiếp chờ trông.
Năm canh thương nhớ lòng hoen lạnh,
Sáu khắc tương tư lệ đẫm nồng.
Gối chiếc song thưa sầu lẻ bóng,
Xót xa ngàn nỗi biết gì đong.
Tiếu Vi Vi
HƯƠNG XUÂN

Bài hoạ 2

Tết  về đất khách còn gió đông
Lạnh lẽo nào nghe tiếng pháo hồng
Tuyết đổ, mưa giăng tràn ngập lối
Đưòng trơn, khó  bước bạn chờ  trông
Giao thừa xuất hướng cầu hưng phúc
Hái  lộc  dâng hương cảnh thắm  nồng
Xuân đến, xuân đi nàng có biết!?
Trao làn hơi ấm khỏi lo – đong
Cù Hoà Phong
SẮC XUÂN

Lặng ngắm chân trời nghe nắng vẫy
Tâm hồn ngây ngất ánh Xuân sang.
Hồn cổ ngàn năm choàng tỉnh dậy
Mê mẫn nàng Xuân mặc sắc vàng!

    Trang y Hạ
                                                                               Nhớ về Xuân xưa
Thích Quảng Hiếu

Tuổi thơ với bao kỷ niệm, chính nhờ kỷ niệm đó mà đã tạo cho tôi và bạn bè cùng thời và thế hệ cha ông đã gắn chặt lòng mình với quê hương và yêu truyền
thống văn hóa của dân tộc. Nói đúng hơn là yêu nước Việt, trân trọng truyền thống văn hóa của tổ tiên để lại.
Tuổi thơ với cánh Diều thả trên cánh đồng sau mùa gặt lúa, đùa giỡn với những cánh Cò mùa nước nổi; những đêm trăng chơi trò “Tè núp, tích bắn” cùng chúng
bạn, những đêm sau cơn giông ra nghĩa địa đuổi giỡn với ma trơi, những hạt lân tinh cháy, mình chạy đến thì nó chạy dài, mình chạy lùi thì nó đuổi theo… ảo ảo
thật thật như cõi kiếp người phù du vậy.
Những mùa gặt có ánh trăng; những ngày Đông giá rét phải ở trường tỉnh đạp xe về nhà. Nhớ nhất là những ngày tết Nguyên đán đứng ngồi không yên suốt ngày
vò võ trong người thân ở phương xa về đoàn tụ. Ôi chính vì kỷ niệm đó đã gắn chặt trong tôi tình quê, tình người!
Tết Nguyên đán sắp đến gần, nàng Đông đã từ biệt thiên nhiên bằng những cơn rét, nhường đất trời cho nàng Xuân, thiên nhiên như trẩy hội, hoa lá bắt đầu khoe
sắc, lòng người như hân hoan rộn rã. Trong khi đó, tâm tôi bị hai thái cực vừa vui xen lẫn nỗi khắc khoải khi nghĩ về thế hệ sau này phần nhiều khác trước quá
nhiều.
Ngày đó, đời sống vật chất túng thiếu, nhưng nồi bánh chưng Mẹ tôi nấu đêm 30, cả nhà quây quần bên bếp lò, mẹ tôi đã kể cho anh em tôi về truyền thuyết Lang
Liêu, vua Hùng dựng nước, bà Trưng, bà Triệu. Lời mẹ kể mộc mạc hồn nhiên nhưng là bài học thấm sâu vào lòng con trẻ, bởi tình mẹ quá thiêng liêng. Ngày
nay, câu chuyện đó chỉ còn ở học đường, khi đạo đức học đường bị xuống cấp, thì còn đâu là kỷ niệm gắn chặt vào lòng. Khi tình quê không còn thì trái tim tìm
đâu ra một chỗ để gởi gắm tình quê; để yêu đất nước.
Bánh chưng hôm nay đã bày bán ở các siêu thị, bộ áo quần mới chẳng còn đứa trẻ nào mặc ướm thử đêm 30…
Song, vẫn còn niềm an ủi. Chuông chùa vẫn còn khua hòa lẫn cùng lời kinh nhắn nhủ con người sống Thiện, nhắc cho con người biết cõi đời này chỉ giả tạm mà
thôi. Do đó, hãy thương yêu nhau hơn, tha thứ cho nhau những lỗi lầm; bởi Xuân Di Lặc là xuân hoan hỷ.
Mùa xuân lại về, đó là xuân của vũ trụ, cái chính là xuân đạo có về trong lòng mỗi chúng ta hay không thì tùy thuộc vào tâm của mọi người. Sự an lạc bình an
trường tồn trong tâm chính là mùa xuân vĩnh cửu không đến không đi, mùa xuân đã ở trong tâm do chính mỗi người trong chúng ta tự nuôi lớn qua tình người,
tình quê hương đất nước.
Khi đã chôn chặt kỷ niệm tuổi ấu thơ với quê hương, thì ta mới có tình quê, mới yêu quê; xuân đạo mới trường tồn. Khi nếm gian khổ mới thương yêu đồng loại
chịu cảnh khổ; bằng không sinh ra trên nhung lụa, sống trên nhung lụa thì lấy đâu đồng cảm với người khổ. Khi không đến chùa, không nghe chuông ngân, không
hiểu lời kinh thì tìm đâu lẽ sống; do vậy thì mặc nhiên sống thiếu đạo đức, cho rằng chết là hết!
Xuân đã về hòa cùng xuân đạo trong lòng mọi người thì lo gì xã hội không văn minh. Xuân đạo sẽ đi vào lòng của những người sống trên nhung lụa giúp họ thêm
cái giá trị của tình người nếu họ cố tâm đi tìm lý đạo; giúp trẻ thơ biết yêu truyền thống văn hóa dân tộc, khi kỷ niệm tuổi thơ đã trải dài bằng các trò chơi Game
ảo ở các tiệm internet; giúp người già vơi bớt cô đơn! Mỗi khi họ biết nhìn ra lẽ sống, phát huy cội nguồn văn hóa truyền thống của dân tộc, thiên nhiên được bảo
vệ và phát triển, hoa lá xanh tươi, chúng sanh thương yêu nhau thì xuân nào đến nào đi trong lòng mỗi người./.
Sài Gòn, những ngày cuối Đông Kỷ Sửu
                                                                                                                       Thích Quảng Hiếu (theo Hoa Linh Thoại)

Niềm Vui Ngày Xuân
Thích Thông Huệ
Nói đến Xuân, hầu như ai cũng nghĩ đến sự tốt đẹp, an vui, mới mẻ. Bởi vì, mùa Xuân là mùa của tiết trời ấm áp, của vạn vật hồi sinh sau những tháng đông tàn tạ
lạnh lẽo. Mùa Xuân cũng khiến lòng ta dịu lại, trải rộng ra, hòa nhập với đất trời và đồng cảm với mọi người.
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Ngày xưa, ông cha ta đón Xuân bằng những món ăn tinh thần và vật chất đơn giản như thế. Bây giờ, bánh chưng dưa hành được bày bán quanh năm, câu đối đỏ
và cây nêu tràng pháo không còn phổ biến, nên không khí Tết đã khác xưa rất nhiều.
Dù vậy, tâm trạng nôn nao mong chờ trong những ngày giáp Tết và niềm vui rộn rã háo hức trong lúc đón Xuân, xưa và nay vẫn không thay đổi mấy.
Hoàn cảnh gia đình không ai giống ai, nhưng người nào cũng muốn nhà mình sạch sẽ hơn, tươm tất hơn ngày thường. Người lớn trang phục chỉnh tề, trẻ nhỏ ít
nhiều cũng có tấm áo mới và tiền lì-xì mừng tuổi. Cách nói năng đối xử với nhau cũng có phần cẩn trọng, lịch sự, biểu hiện sự hoan hỷ, thông cảm giữa người và
người.
Ở nước ta, những thú vui, trò giải trí được tổ chức thật đa dạng trong những ngày đầu năm: từ những thú tao nhã như chơi hoa, vẽ tranh, thư pháp… đến những
trò giải trí có tính cách dân gian hoặc các lễ hội truyền thống mùa Xuân. Tất cả đều được hưởng ứng nồng nhiệt, được tham dự đông đảo.
Điều này nói lên tính cách của dân tộc Việt, dù hoàn cảnh khó khăn đến mấy, cũng không mất sự lạc quan yêu đời. Thật khó tìm thấy ở nơi nào khác mà người
dân lại hưởng Tết quá lâu, quá kỹ và quá nhiều màu sắc như Việt Nam ta.
Cũng chính vì vậy, phần đông những người xa xứ đều mang trong lòng nỗi nhớ quê hương, đều tìm cơ hội về thăm nơi chôn nhau cắt rốn để hưởng một mùa
Xuân sum họp.
Trước bàn thờ tổ tiên, họ sẽ thành tâm dâng lên ông bà cha mẹ những thành quả trong học tập, trong công danh mà mình đã đạt được. Đồng thời, họ cũng bùi
ngùi nhận ra rằng, mình chưa báo đáp được đầy đủ công ơn trời biển của các Người; tự hứa với lòng sẽ tìm cách giúp đỡ gia đình, người thân và những ai không
may mắn, để bù đắp lại những tháng ngày hờ hững đã qua.
Đối với người Phật tử, mùa Xuân là lúc thích hợp để hành hương, chiêm bái các tự viện. Một số người còn nặng về phước lộc đến chùa cầu Phật Trời ban cho
sức khỏe, hạnh phúc và mọi điều may mắn trong cuộc sống. Họ nghĩ đến Phật như một đấng thần linh, một chốn náu nương trừu tượng nhưng cũng là nguồn an
ủi, là sự động viên tinh thần quý giá.
Những ngày đầu năm cũng là dịp để chúng ta đến thăm bà con, bạn bè, cùng tặng nhau những lời chúc tốt đẹp, cùng uống với nhau ly rượu, một tách trà. Nếu có
điều kiện, chúng ta tổ chức tham quan những di tích lịch sử, những thắng cảnh của quê hương để thấy rằng đất nước ta thật đẹp đẽ, dân tộc ta thật kiên cường
bất khuất. Tình yêu quê hương sẽ có dịp được tăng trưởng, tình cảm giữa người và người có dịp được thắt chặt. Ta sẽ thấy lòng mình chan hòa cùng đất trời và
con người, ta sẽ biết cách sống đầy tình nghĩa với đồng bào đồng loại. Ta cũng biết tôn trọng và bảo vệ môi trường sống chung qua ta, bởi vì vạn vật đối với ta
đều vô cùng thân thiết.
Tuy nhiên, những loại hình giải trí đa dạng cũng chỉ “mua vui một vài trống canh”, niềm hạnh phúc sum họp rồi cũng nhường cho nỗi sầu ly biệt. Mấy ngày Tết
rộn ràng bao nhiêu, khi trở lại với những lo toan đời thường, chúng ta càng thấy quạnh quẽ trống vắng. Nhất là đối với những người luống tuổi neo đơn, khi con
cháu lần lượt ra đi hết, thì niềm sum họp ngắn ngủi ngày nào càng làm nặng nề hơn nỗi buồn hiu quạnh hôm nay.
Cho đến niềm hạnh phúc của người Phật tử cảm nhận được khi đến chùa, cũng chỉ hiện hữu khi họ còn chiêm ngưỡng dung mạo và nụ cười tự tại của Đức Phật,
còn đắm mình trong khung cảnh bình an của ngôi Già-lam.
Trở về nhà, họ lại bị quay cuồng trong vòng xoáy của cuộc tồn sinh, lại bị đắm nhiễm trong trần cảnh và bị trói buộc trong xiềng xích danh lợi.
Vì thế, trong niềm vui nào cũng ẩn hiện bóng dáng của khổ đau, vì vui ấy do vay mượn từ bên ngoài và vì nó không bền lâu, không chắc thật. Cũng như mùa
Xuân đất trời, chỉ hiện diện trong ba tháng rồi theo luật tuần hoàn, nhường chỗ cho mùa hè nóng bức. Nhà Phật gọi đó là cái vui sinh diệt, vui trong vô thường.
Vậy thì, có niềm vui nào tồn tại vĩnh viễn không? Nếu có, bằng cách nào chúng ta tìm được niềm vui ấy? Đây là vấn nạn của con người, và chính Đức Phật đã
đưa ra lời giải đáp tường tận, cách đây hơn 25 thế kỷ.
Chúng ta thường đổ thừa hoàn cảnh và những tác nhân bên ngoài gây đau khổ cho mình. Rất ít người chịu nhìn lại bản thân, xem phiền não do đâu mà có.
Kinh Lăng Nghiêm kể đoạn ngài A-Nan hỏi Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, thế nào là cội gốc phiền não sinh tử, thế nào là cội gốc Bồ-đề Niết-bàn?”. Câu trả lời
đến từ mười phương chư Phật: “Cội gốc phiền não sinh tử là sáu căn của ông, cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông chứ không đâu khác!”.
Mắt thấy sắc liền phân biệt đẹp xấu, đẹp thì muốn chiếm làm của riêng, xấu thì sanh tâm ghét bỏ, khi lòng tham không thỏa mãn lại phát khởi sân hận…Tai nghe
tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên theo pháp trần… mỗi mỗi đều dính mắc nên tạo nghiệp.
Nghiệp thiện dẫn ta đến các cõi lành, nghiệp ác dẫn vào đường dữ, rốt cuộc cứ quẩn quanh trong ba cõi sáu đường! Như thế, nếu các căn tiếp xúc với trần cảnh
mà dính mắc, thì ngay hiện đời đã chịu phiền não, khi mất thân lại mang nỗi khổ lớn nhất, ấy là cái khổ luân hồi sinh tử.
Ngược lại, nếu vẫn tiếp duyên xúc cảnh mà không khởi tâm phân biệt, thì nghiệp do đâu phát sinh? Vòng luân hồi đương nhiên bị chặt đứt.
Hình tượng Đức Bồ tát Di-Lặc mập tròn, bụng to, khuôn mặt đầy đặn phúc hậu, nụ cười thật thoải mái với những đứa trẻ vây quanh, biểu hiện một niềm hạnh
phúc vô bờ. Vì sao Ngài có được sự hỷ lạc tuyệt vời đến thế?
Những đứa trẻ tượng trưng sáu trần luôn bám theo Ngài quậy phá, như trần cảnh lúc nào cũng hiện hữu xung quanh chúng ta. Nhưng khác với chúng ta, Ngài tuy
vẫn tiếp duyên mà không chấp trước, không nhiễm ô. Vì Đại xả nên lục tặc biến thành lục thông, nên Ngài luôn luôn có một niềm vui trọn vẹn, miên viễn (Đại hỷ).
Niềm vui này là tiền đề của hạnh phúc tuyệt đối - hạnh phúc giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Như vậy, hạnh phúc thật sự của con người không phải từ bên ngoài đến, mà từ sự buông xả ở ngay nội tâm mình. Trong đời sống thường nhật, chúng ta xả bỏ
những tranh chấp hơn thua, những điều thị phi không như ý, xem đó chỉ là những cơn mưa bóng mây thoáng qua rồi mất; ngay lúc ấy, ta thấy mình được an ổn
đôi phần.
Tiến lên một bước, ta quán chiếu trần cảnh chỉ là duyên hợp giả có, tâm không khởi phân biệt khi các căn tiếp xúc các trần. Biết rằng mọi ý niệm đều hư dối, từng
bước ta buông xả hết mọi tình chấp đối với ta - người và các pháp. Buông xả thì mới hay Niết bàn tại hiện tiền chứ không ở đâu xa lạ, và mùa Xuân bất diệt cũng
ở ngay tại đây và bây giờ!

Nhận ra mùa Xuân bất diệt ấy, Sơ Tổ Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng đã làm bài kệ:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá Đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Hòa thượng Trúc Lâm dịch:
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Chiếu trải giường Thiền ngắm cành hồng.

Tuổi trẻ chưa thấu rõ lý sắc không, cứ mãi mê đuổi theo ngoại cảnh, nên khi thấy hoa nở báo Xuân về, lòng bỗng nhiên rộn ràng cảm xúc. Ngày nay, Ngài đã
khám phá bộ mặt thật của Chúa Xuân, tức nhận ra bản lai diện mục của chính mình và quán triệt thực tướng của các pháp.
Các pháp do duyên tụ hợp, hết duyên lại trở về không, tánh của các pháp vốn là Không, nhờ duyên hợp nên giả có. Bằng cái thấy siêu việt nhị nguyên, Thiền sư
luôn sống trong mùa Xuân vĩnh cửu; Ta-bà cũng là Tịnh-độ, phiền não và Bồ-đề không hai không khác. Người vô sự ngồi trên giường Thiền, ngắm từng cánh
hồng rơi rụng mà lòng vẫn an nhiên. Bởi vì, hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân, mỗi phút giây đều là Xuân.
Trong hội Linh Sơn, khi Đức Phật đưa cành sen xanh lên, nhìn khắp lượt đại chúng, Ngài bắt gặp ánh mắt Ca-Diếp. Thời điểm bốn mắt nhìn nhau là một khoảnh
khắc thiên thu. Tâm thầy và tâm trò tương ưng, không lời diễn tả nên chỉ biết mỉm cười! Nụ cười Ca-Diếp là hình ảnh tuyệt đẹp thể hiện sự khế hợp Thầy-trò
trong một thực tại vô ngôn, khi Chúa Xuân bị khám phá.
Ý nghĩa sâu xa của sự tích Niêm hoa vi tiếu không phải là ở chỗ niêm hoa (đưa cành hoa lên) hay vi tiếu (mỉm cười), mà chính là sự giao cảm bất tư nghì giữa tâm
Thầy và tâm trò, tại thời điểm tứ mục tương cố (bốn mắt gặp nhau).
Do vậy, Đức Phật mới trao truyền Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm cho Ca-Diếp. Và cũng từ đó, Phật pháp lưu truyền như nước từ nguồn tỏa khắp các
nhánh sông, mang đến sức sống cho muôn loài muôn vật. Cho đến ngày nay, sức sống ấy vẫn luôn tuôn trào, để những người hữu duyên có thể nhìn thấy nhánh
mai vàng rực rỡ trong một đêm cuối Xuân!
Nhân mùa Xuân đất trời lại đến, chúng ta hãy cùng chân thành chúc nhau sớm khám phá Chúa Xuân miên viễn của chính mình, sớm có niềm vui thưởng thức vẻ
đẹp của cành mai không bao giờ tàn tạ. Niềm vui ấy mới là tuyệt đối, là vĩnh cửu, mới là mục đích cao tột trong đời tu của tất cả chúng ta.
Thích Thông Huệ
Báo Tết và Văn Hóa Tết
                                                                                                                                    Nguyễn Hưng Quốc
Từ thập niên 1930, bắt đầu với sáng kiến của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trên báo Phong Hoá, báo Tết đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong sinh hoạt mừng
xuân của người Việt Nam. Bên cạnh những "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ"; bên cạnh những "cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh"; Bên cạnh? Không phải. So
với các món Tết cổ truyền vừa kể, vị thế của báo Tết quan trọng hơn nhiều.
Ngày nay, cây nêu, câu đối đỏ hay dưa hành chỉ còn là những kỷ niệm, có khi thật xa vời, hun hút nằm ngoài trí nhớ của nhiều người Việt Nam. Riêng pháo thì, từ
nhiều năm rồi, bị cấm; và thịt mỡ thì dần dần, cùng với đà phát triển của kinh tế, không còn là một giá trị điển hình cho ngày Tết nữa. Trong khi đó báo Tết không
những không suy giảm mà càng ngày càng phát triển, từ trong nước ra đến hải ngoại. Đâu đâu cũng có báo Tết. Báo chuyên nghiệp ra số Tết đã đành. Ngay cả
các đặc san của các hội đoàn cũng chọn dịp Tết để ra báo như để cố góp vào cái rừng báo Tết vốn đã rậm rạp của người Việt bằng chút hương hoa địa phương.
Tôi không biết ở các nước khác thế nào, chứ riêng tại các quốc gia nói tiếng Anh, rõ ràng là người ta không có thói quen làm báo Tết. Ngay cả đầu năm 2000 và
đầu năm 2001, thời điểm kết thúc và mở đầu không những của một thế kỷ mà còn của cả một thiên niên kỷ, các tờ báo lớn tại Mỹ, Anh, Úc và Canada... cũng chỉ
phát hành những phụ trương mong mỏng tổng kết những sự kiện và những nhân vật nổi bật nhất trong một số lãnh vực nào đó mà thôi. Hoàn toàn không có
những số báo Tết hay những giai phẩm xuân như ở ta. Bởi vậy, trong chừng mực nào đó, một cách dè dặt, chúng ta cũng có thể nói báo Tết là một hiện tượng
khá đặc thù của Việt Nam. Cái đặc thù ấy không chừng xuất phát từ tham vọng làm... văn chương của những người làm báo. Nên lưu ý là báo Tết thường gắn liền
với các nhật báo hoặc tuần báo. Các tạp chí ra hàng tháng hay nhiều tháng, nếu có số Tết, cũng chỉ là một cách gọi tên cho tiện và cho... vui; thực chất chúng
cũng chỉ là một thứ giai phẩm khá bình thường, may lắm, thoáng chút hương xuân ở đôi bài tổng luận hay phỏng vấn. Những số báo Tết tiêu biểu nhất thường
được tìm thấy ở những người làm báo thực sự. Có thể xem báo Tết như một thứ đại yến của những tờ báo tin tức và thời sự: đó là dịp để những người quanh năm
tất bật với những tin vắn tin dài có thể ngồi xuống làm... thứ văn chương mà họ tin là nghiêm túc. Với bìa cứng và được bấm gáy cẩn thận, số báo Tết được xem
như một sự hoá thân: từ báo, nó trở thành tạp chí; từ tin tức, nó trở thành nghệ thuật; từ giải trí, nó trở thành văn chương; từ việc đáp ứng những nhu cầu bức
thiết nhưng rất phù du hàng ngày, nó trở thành một thứ tác phẩm có thể được lưu giữ lâu dài trên các giá sách. Những sự hoá thân ấy có tác động thăng cấp về
tâm lý: với các số báo Tết, một nhà báo thích thú với chữ nghĩa có thể tự cảm thấy mình là một nhà văn hay một nhà thơ; một nhà báo khác say mê bình luận tin
tức có thể tự cảm thấy mình là một nhà... bình luận chiến lược, hoặc thậm chí, một nhà chiến lược..
Tuy nhiên, trên thực tế, ý nghĩa văn chương và nghệ thuật của các số báo Tết ấy rất mong manh.
Trước đây, về phương diện nghệ thuật, các số báo Tết có một đặc điểm nổi bật là in màu nên trông rực rỡ hơn hẳn các số báo thường. Nhưng khi phần lớn các
số báo thường cũng được in màu, ít nhất là ở cái bìa, thì vẻ rực rỡ không còn là một tín hiệu của Tết nữa. Đó là chưa kể, loại bỏ yếu tố màu sắc ra, hình ảnh in
trên các bìa báo Tết thường khá giống nhau: hoặc hình thiếu nữ hoặc hình ông bà cụ già với cháu nhỏ trong y phục cổ truyền, hoặc hình một vật gì đó gắn liền với
ngày Tết: hoa, cây nêu, pháo, bánh chưng, v.v... Đại khái thế. Rất ít có sự thay đổi. Mà hình như người ta cũng ngại thay đổi: Tết đồng nghĩa với truyền thống.
Văn chương của báo Tết cũng thế. Cũng ngại thay đổi. Ngại thay đổi từ đề tài trở đi: Bài vở khác nhau, các cây bút cộng tác khác nhau, nhưng hầu như tờ báo
Tết nào cũng có những phần mục y như nhau. Bao giờ cũng có phần tổng kết tình hình trong năm. Nghiêm túc thì người ta viết bài tổng kết ấy dưới hình thức tiểu
luận. Nặng tinh thần giải trí thì người ta viết dưới hình thức sớ Táo quân. Nhiều báo còn cụ thể hoá tình hình trong năm bằng cách chọn ra những thành tích xuất
sắc và những gương mặt tiêu biểu nhất để biểu dương. Hơn nữa, người ta còn đi xa hơn trong việc tổng kết bằng cách nhìn lại toàn bộ những năm mang cùng tên
con giáp trong suốt lịch sử, từ đó, có những bài như "Những năm Ngọ trong lịch sử", "Những năm Thìn trong lịch sử", v.v... Đi kèm với những bài như thế bao
giờ cũng có những bài viết khác tìm hiểu những đặc điểm của những con vật được chọn đặt tên cho năm: chuột, trâu, cọp, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ... Với những
đề tài như thế, người ta không thể tránh khỏi sự trùng lặp trong nội dung. Gắn liền với một con vật nào đó thường chỉ có một số chuyện nhất định, kiểu: con ngựa
trong ca dao, tục ngữ; con ngựa trong hội hoạ; con ngựa trong văn chương; con ngựa trong thế giới sinh vật học, v.v... Một số không ít những bài viết ấy sẽ
được in lại hoặc xào nấu lại trong một chu kỳ cố định: 12 năm. Bởi vậy, tuy năm nào chúng ta cũng có hàng trăm tờ báo Tết, những giai phẩm xuân dày cộm và
lộng lẫy, số lượng những tác phẩm về Tết có giá trị, cả trong lãnh vực sáng tác lẫn lãnh vực nghiên cứu, rất hiếm, hiếm một cách rất đáng kinh ngạc. Khi nào cần
tìm một bài thơ thật hay về mùa xuân ư? Thì chúng ta lại phải quay về với Vũ Đình Liên, với Đoàn Văn Cừ, với Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên những năm trước 45
xa xôi. Khi nào cần tìm một số công trình nghiên cứu nghiêm túc và khả tín về phong tục tết nhất ư? Thì chúng ta lại phải quay về quá khứ, với Toan Ánh hay
Vương Hồng Sển trước năm 1975, hay có khi xa hơn nữa, tận thời Phan Kế Bính, trước năm 1930.
Biết thế, nhưng người Việt Nam nói chung vẫn cứ yêu báo Tết. Giới làm báo yêu báo Tết: Tết, không có số báo đặc biệt, họ cảm thấy như thiếu thiếu một cái gì.
Giống như những người bình thường thiếu một chậu hoa, một gói bánh chưng hay một đòn bánh tét. Giới viết văn và làm thơ cũng yêu báo Tết: rất nhiều người
quanh năm không viết lách được gì cũng cố góp mặt trên trang báo Tết một bài thơ hay một tiểu phẩm gì đó. Nhiều người chuẩn bị cho báo Tết khá kỹ: ngay từ
giữa năm, lúc trời Úc đang còn trong mùa hạ hoặc mới vừa chớm thu, họ đã nắn nót những bài thơ nặng trĩu nỗi hoài hương và hoài cổ trong không khí giao thừa
lạnh lẽo ở xứ lạ quê người. Một số người cẩn thận và cũng ngây thơ hơn, ghi chú dưới bài thơ dòng chữ đầy tính... hư cấu, kiểu "Viết giữa đêm giao thừa... 2002",
trong khi trên thực tế, bài thơ ấy đã được làm và gửi đến toà soạn từ giữa năm... 2001. Độc giả, cầm đọc bài thơ với câu ghi chú như thế cả một, hai tháng trước
đêm giao thừa, cũng không lấy gì làm khó chịu. Người ta dễ dàng xem đó như một thứ nghi thức. Thật ra, với họ, ngay chính việc mua tờ báo Tết cũng gần như
một nghi thức: tờ báo, giống như một gói mứt; mua, chưa chắc đã ăn, nhưng không mua thì không an tâm. Mua báo Tết, có khi chỉ liếc sơ qua, nhưng nếu không
mua, cứ e hương vị ngày Tết cứ nhạt đi một chút. Thành ra, có thể nói, với người Việt Nam, báo Tết là một hiện tượng văn hoá. Đó là thứ văn hoá hội hè. Đặc
điểm đầu tiên của văn hoá hội hè là tính chất tập thể, ở đó, ngay sự hiện diện đã là một ý nghĩa. Không cần biết ai hiện diện, chỉ cần biết là nhiều người hiện diện.
Bởi vậy số báo Tết nào người ta cũng cố lôi kéo thật nhiều người tham gia. Nếu không tham gia được với tư cách tác giả thì cũng tham gia với tư cách những
người được phỏng vấn. Mà các cuộc phỏng vấn chỉ cần đa dạng chứ không cần chuyên sâu. Mỗi người thường được hỏi vài ba câu, thật ngắn. Trả lời sao cũng
được, ở đây chất lượng không quan trọng: điều quan trọng nhất là mỗi người một giọng để tờ báo có không khí đình đám. Đình đám thì phải... vui.
Hầu hết những người làm báo Tết đều ý thức rất rõ là tờ báo của mình được đọc trong không khí Tết, lúc mọi người chỉ muốn tận hưởng những gì thảnh thơi và
may mắn nhất. Do đó, người ta thường né tránh những đề tài và những phong cách quá nặng nề. Hí hoạ, thơ, truyện cũng như những bài phóng sự hài hước và
phóng sự ngắn được đặc biệt ưa chuộng. Nhưng đặc điểm nổi bật nhất ở các tờ báo Tết chính là nền văn hoá nhìn lại. Báo Tết, thực sự là báo Tết, trong cảm
quan của cả người viết lẫn người đọc, bao giờ cũng là một sự nhìn lại, hoặc chủ yếu là một sự nhìn lại. Nhìn lại một năm. Nhìn lại một giáp. Nhìn lại một thế kỷ.
Nhìn lại những thành công và những thất bại của một đất nước hoặc một lãnh vực nào đó. Nhìn lại những nếp cũ, những tục cũ. Nhìn lại những vang bóng một
thời. Nhìn lại. Số báo Tết nào cũng thường nặng trĩu quá khứ và cũng man mác tâm sự u hoài. Thì cũng hay thôi. Mỗi số Tết là một dịp ôn bài. Ôn tập thể. Và thú
vị. Như nhắp một hớp trà hay nhâm nhi một miếng mứt. Có lẽ phần lớn những kiến thức của chúng ta về phong tục tập quán của dân tộc cũng như những dấu
mốc quan trọng trong lịch sử đất nước nếu không đến từ, thì cũng được củng cố bởi các dịp ôn bài như thế. Không có chúng, khó có thể tưởng tượng là đến hơn
nửa cuộc đời, chúng ta vẫn nhớ đến những sự tích bánh chưng bánh dày hay những câu chuyện ngồ ngộ liên quan đến các giống vật được chọn đặt tên cho từng
năm như chó, mèo, ngựa, khỉ, rắn, rồng, v.v... Bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên được nhiều người ghi nhớ hơn nhiều bài thơ khác có lẽ một phần lớn cũng là
nhờ báo Tết. Tên tuổi của Đoàn Văn Cừ, một nhà thơ thời 1930-45, tác giả của một số bài thơ về Tết nổi tiếng, còn lại mãi có lẽ chủ yếu cũng nhờ báo Tết.
Những việc "ôn bài" dưới hình thức báo Tết như thế không phải chỉ có ích lợi là giúp bồi bổ kiến thức của mọi người. Quan trọng hơn, chúng còn giúp tạo nên
một thứ ký ức tập thể chung cho cả dân tộc, khiến cho người Việt Nam thuộc bất cứ địa phương hay bất cứ thế hệ nào cũng đều có một số hình ảnh khá giống
nhau và một số khái niệm khá giống nhau về đất nước. Chính những ký ức tập thể như thế đã góp phần hình thành nên những ý niệm về cái gọi là bản sắc văn
hoá; và bản sắc văn hoá, đến lượt nó, lại điều kiện hoá cách suy nghĩ cũng như cách hành xử của từng cá nhân
Có thể nói, ở Việt Nam, ký ức có vai trò quan trọng hơn hẳn lịch sử. Thật ra, ở một góc độ nào đó, ký ức và lịch sử là một: lịch sử là thứ ký ức tập thể đã được
gạn lọc và lưu giữ bằng một phương tiện vật lý nằm ngoài bộ nhớ của từng cá nhân. Đó là thứ ký ức được ghi lại. Lịch sử được viết theo phong cách hàn lâm
(academic history), nói theo Lutz Niethammer, là thứ ký ức tập thể trong một thời đại khoa học (1). Tuy nhiên, chính việc ghi lại ấy đã làm cho lịch sử ít nhiều
khác biệt với ký ức. Được ghi chép tức là được gạn lọc: lịch sử nào cũng ít nhiều chịu sự chi phối của các thế lực khác nhau trong xã hội, chủ yếu là các thế lực
đang nắm vai trò thống trị, nói như ai đó, trong một câu nói đã thành châm ngôn: lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng. Hơn nữa, được ghi chép, lịch sử,
một mặt, sẽ còn lại với thời gian, nhưng mặt khác, lại bị tách ra khỏi sự sống vẫn còn đang tiếp tục vận động. Những yếu tố này làm cho lịch sử trở thành một cái
gì bất toàn và đầy nghi vấn. Theo Maurice Halbwachs, trong khi ký ức tập thể về quá khứ được chia sẻ trong cả cộng đồng, lịch sử chỉ là kết quả của những
công trình nghiên cứu dành cho một thiểu số; trong khi ký ức tập thể vô cùng đa dạng, lịch sử chỉ có một(2). Nhưng cũng từ hiện tượng được ghi chép, lịch sử
có một đặc điểm rất tích cực: được ghi chép là được có cơ hội xác minh và bổ sung, nhờ thế, có nhiều triển vọng để gần với sự thực hơn là những ký ức được
lưu giữ trong từng cá nhân riêng lẻ và đầy chủ quan. Từ khoảng giữa thập niên 1970 trở lại đây, giới nghiên cứu không còn cố gắng tìm cách đối lập ký ức và lịch
sử nữa mà họ xem ký ức như một hình thức bổ sung cho lịch sử. Bổ sung ngay trong ngành sử học: bên cạnh khái niệm lịch sử thành văn quen thuộc, xuất hiện
khái niệm lịch sử truyền khẩu (oral history). Bổ sung trong lãnh vực xã hội, chính trị và văn hoá: từ những ký ức tập thể của dân chúng, giới nghiên cứu có thể
khám phá ra cách thức con người diễn dịch và nhào nặn lại quá khứ, cách thức quá khứ tác động lên hiện tại và phần nào, cả tương lai nữ
Bổ sung. Dù được chú ý đến mấy, ký ức cũng chỉ đóng vai trò bổ sung cho lịch sử mà thôi. Nó không thể thay thế lịch sử. Lịch sử có tính thiên vị? Đồng ý.
Nhưng ký ức, dù là ký ức tập thể, cũng không công bình hơn chút nào. Đằng sau, có khi xa lắm đằng sau hành động nhớ và quên của một cộng đồng bao giờ
cũng tiềm tàng một thái độ chính trị nhất định: người ta thường chỉ nhớ những gì họ muốn nhớ và quên những gì họ muốn quên. Hơn nữa, hình thức thành văn
của lịch sử là điều kiện để phát triển tầm nhìn có tính tổng hợp và khái quát: Những khái niệm trừu tượng như phong kiến, tư bản, cộng sản, cách mạng, quân
chủ, dân chủ, đa nguyên, v.v... chỉ có thể ra đời trên cơ sở của lịch sử. Ký ức, ngược lại, chỉ làm người ta quanh quẩn mãi trong những cái cụ thể gần gũi và nhí
nhách.
Ký ức tập thể, muốn tồn tại lâu dài, phải gắn liền với các câu chuyện kể. Một nền văn hoá được xây dựng chủ yếu trên nền tảng của ký ức nhất thiết là một nền
văn hoá mang tính tự sự (narrative culture) (3). Văn hoá Việt Nam, cho đến nay, là một nền văn hoá như thế. Lịch sử, bất kể là lịch sử gì, với chúng ta, chỉ là một
chuỗi chuyện kể liên miên theo trình tự thời gian. Sáng tác, bất cứ thuộc thể loại gì, từ văn xuôi đến văn vần, từ một thiên tiểu thuyết đến một bài thơ, với chúng
ta, cũng là một cách kể chuyện, hoặc những câu chuyện đầy biến cố liên quan đến đời sống chính trị, xã hội của các nhân vật, hoặc những câu chuyện ngăn
ngắn, nho nhỏ, liên quan đến đời sống tâm tình, với những ước mơ và những thất vọng, những nhớ nhung và những khắc khoải, những đắng cay và những giận
hờn... của chính người cầm bút. Phê bình, với chúng ta, cũng lại là một cách kể chuyện: kể lại câu chuyện xảy trong tác phẩm mình phê bình hoặc kể lại những gì
mình cảm, mình nghĩ, mình liên tưởng nảy sinh từ tác phẩm ấy. Cả đến văn lý thuyết, với chúng ta, ở một mức độ nào đó, cũng là một cách kể chuyện: kể về một
vấn đề, về những tranh luận chung quanh một vấn đề, về những chi tiết nhằm minh hoạ cho vấn đề ấy, ở đó có rất ít những sự phân tích. Càng ít hơn nữa những
cách nhìn có sức tổng hợp với những khái niệm trừu tượng và mang tính khái quát caĐã đành dân tộc nào vào thuở sơ khai khi chưa có chữ viết hoặc chưa có
điều kiện in ấn cũng đều yêu chuộng hình thức chuyện kể. Tuy nhiên, hình như ở Việt Nam, lòng yêu chuộng ấy sâu đậm một cách khá đặc biệt. Sâu đậm đến độ,
với người Việt Nam, quá khứ không có gì khác hơn ngoài các câu chuyện kể. Chúng ta phá hoại không thương tiếc các di tích lịch sử; chúng ta hờ hững với
những gì có khả năng trở thành di tích lịch sử; chúng ta chỉ yêu các câu chuyện kể. Chúng ta kể đi kể lại không biết mệt mỏi từ chuyện Lạc Long Quân lấy Ấu Cơ
đến Trọng Thuỷ phản bội Mỵ Nương, chuyện Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, chuyện Trưng Trắc trả thù chồng, chuyện Triệu Trinh Nương vú dài ba thước,
chuyện Trần Quốc Toản bóp nát trái cam trong tay, v.v...
Không phải không có khía cạnh tích cực: Theo tôi, chính việc chia sẻ niềm tin và sự say mê đối với các câu chuyện kể ấy đã góp phần tạo nên sự thống nhất của
dân tộc Việt Nam, để từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại, từ già đến trẻ, từ trí thức đến bình dân, ở đâu người Việt Nam cũng có một sự tưởng tượng
chung, từ đó, ngỡ chừng như có một quá khứ chung, một cội nguồn chung. Nói một cách khái quát hơn, cái gọi là dân tộc Việt Nam, đặc biệt là cái gọi là dân tộc
tính của Việt Nam, thực chất là một số câu chuyện kể chung.
Đẩy vấn đề lên một tầm khái quát như vậy, chúng ta gặp một số lý thuyết gia hậu hiện đại, những người xem những khái niệm hết sức căn bản như tổ quốc, sắc
tộc, bản sắc, v.v... không phải là những gì có sẵn mà chỉ là những gì được tạo ra, hơn nữa, không ngừng được tái tạo qua thời gian. Hay, nói như Werner Sollars
sắc tộc chỉ là một chuỗi những sự hư cấu có tính tập thể (a set of collective fictions)(4); nói như Benedict Anderson, tổ quốc chỉ là một cộng đồng tưởng tượng
(imagined community) (5); và như Homi Bhabha, tổ quốc là những gì được kể lại(6). Những gì được kể lại ấy hẳn đã thuộc về quá khứ. Tuy nhiên, qua việc kể,
những di tích đầy huyễn tưởng của quá khứ ấy lại tác động lên việc hình thành những những giá trị văn hoá làm mẫu số chung trong xã hội để căn cứ theo đó,
mọi người đánh giá các hiện tượng chung quanh, và chọn lựa cho mình những cung cách hành xử được xem là đúng đắn nhất. Nói cách khác, cái được kể sẽ dần
dần được nội tâm hoá và đến một lúc nào đó, trở thành khuôn thức để hình thành nhân cách và tính cách của chúng ta: từ những người kể chuyện, chúng ta bị
biến thành những người được kể, thành các nhân vật. Đây mới chính là điều đáng ngại: ở tận đầu thế kỷ 21, thật chẳng có gì vui khi cứ phải tiếp tục làm những
nhân vật dễ thương nhưng rất đơn giản, đơn giản đến độ ngây ngô, như trong các câu chuyện cổ tích ngày nào. Chính vì vậy, mỗi lần cầm các tờ báo Tết, tôi vừa
mừng vừa cảm thấy có cái gì như là ngài ngại                                                 
    Nguyễn Hưng Quốc
 Nhớ Mẹ Đêm Xuân

Xuân về chạnh nhớ bóng quê
Bao năm xa xứ chưa về làng xưa
Nhớ hoài những buổi chiều mưa
Tan trường mẹ vẫn đón đưa đứng chờ

Đêm nằm thấy mẹ trong mơ
Hao gầy ánh mắt mẹ chờ mẹ trông!
Tha phương chia cách nghìn trùng
Từng đêm sương lạnh gieo lòng khổ đau

Thương con mẹ khóc đêm thâu
Chờ con mòn mõi nỗi sầu chứa chan
Xuân sang hạ đến đông tàn
Con chưa về được ngút ngàn nhớ thương

Nhìn làn tuyết trắng con đường
Nhớ hoài mái tóc điểm sương mẹ hiền
Xuân về hoa lại giăng thềm
Thêm mùa mai nở tháng Giêng ngả buồn

                         Võ thị Tuyết
                          Xuân 2010