Hồn Nước, tờ báo của tri thức. Được phổ biến đến Độc Giả qua mọi miền
đất nước:Hoa Kỳ - Pháp - Úc - Canada - Việt Nam …
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước, thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com - Or: hiepnguyen930@yahoo.com
                                                                     
Cell:   678-770-1497
             Năm Dần, chuyện đả hổ
                                                                                                                  Ông Bút
Có người Mỹ nói: Những đứa trẻ Á Châu chuyện trò với nhau bằng tiếng Anh. Nhất định chúng nó là Việt Nam! Ôi, suy đoán chính xác và thương đau, không chối chạy đâu được. Đừng
nói đâu xa, ngay trong nhà này la rầy mỏi miệng, khàn cổ thế nhưng có được đâu. Rầy qúa tụi nó không nói tiếng Anh nữa, tiếng Việt cũng không. Nghĩa là chúng nó chịu câm! Câu nói
trên còn chứa đựng một niềm đau khác: Ngoài những đứa trẻ Việt không chịu nói tiếng mẹ đẻ. Những dân tộc khác không giống Việt Nam, trong cung cách duy trì và phát triển văn hóa
dân tộc.
Hầu hết khi nói chuyện đánh hổ người ta nhớ ngay Võ Tòng. Trong chuyện: Một trăm lẽ tám anh hùng Lương Sơn Bạc, của Thị Nại Am, làm như Võ Tòng dân Bến Tre, Phan Thiết không
bằng! Không hiểu đường lối xâm nhập “văn hoá vận” của thiên hạ sao tài tình qúa, nó ăn vào từng tế bào, từng giọt máu, nhập sâu vào tận cùng tâm khảm con người. Về không gian Thủy
Hử xa vời vợi, thời gian còn mù tăm hơn nữa, cách nay cả vài ngàn năm. Trong khi đó chuyện Lê Văn Khôi đánh hổ xãy ra ngay thành Gia Định, giữa thế kỷ 18. Chưa nói truyện Tàu “bảy
hư ba thực”, riêng Thủy Hử chín mươi chín phần trăm chỉ là chuyện suông mà thôi. Ngay như sử nhà Tống cũng nói về Tống Giang tụ tập được ba mươi sáu đồ đảng cướp giựt ven miền
duyên hải, thật sự cũng làm mưa, làm gió một thời, vang danh chốn giang hồ, về sau bị Tri phủ Hải Châu Trương Thúc Dạ bắt được. Nhưng qua tài nghệ ngòi bút Thị Nại Am đã làm say
mê người đọc. Cứ tưởng như thật.
Nhìn lại trang sử Việt,
Lê Văn Khôi nguyên họ Nguyễn, ông tổ đời thứ chín Nguyễn Tông Thái, đời sau đó lại đổi sang họ Bế, có lẽ người cha lấy vợ dân tộc thiểu số còn theo chế độ mẫu hệ, ông tổ đời thứ năm
có công đánh được nhà Mạc ở Cao Bằng, nên đời đời được hưởng tập phiên thần, thành họ lớn danh vọng ở Cao Bằng.
Đến đời vua Lê Hiển Tông cho đổi thành họ Bế Nguyễn, căn cứ đến đây Lê Văn Khôi con ông Bế Nguyễn Kiện, sinh ra Bế Nguyễn Khôi – Khôi con nhà võ gia truyền, từ nhỏ có sức khỏe lạ
thường, ăn rất nhiều. Vui tính, thêm chút khôi hài nên bạn bè trong làng ai cũng mến. Không riêng mặt võ công Bế Nguyễn Khôi còn có tài văn chương, tuy chưa hoàn thành tác phẩm nào,
nhưng bốn tuồng San Hậu có công của Khôi nhuận sắc.
Chuyện Bế Nguyễn Khôi trở thành Lê Văn Khôi sử sách có nhiều chứng liệu như sau:
1-  Sách Đại Nam chính biên liệt truyện ghi: Năm Gia Long thứ 18, năm 1819 ở hai trấn Thanh Nghệ và Thanh Bình, ngày nay Ninh Bình - phủ Thiên Quan, (bây giờ Nho Quan) những lưu
dân thổ phỉ làm loạn, quan sở tại trình lên, triều đình cử Tả Quân Lê Văn Duyệt đánh dẹp. Dịp này Khôi mộ quân dưới trướng, có nhiều công trạng được Tả Quân yêu mến, cho ở luôn bên
cạnh.
2-  Sử Gia Trần Trọng Kim: Khôi khởi binh làm loạn, bị quan quân đuổi đánh chạy vào Thanh Hóa, gặp Lê Văn Duyệt xin đầu hàng, ông Duyệt tin dùng cho làm con nuôi. Đem về Gia Định
cất nhắc cho làm đến Phó Hiệu Uý.
3-  Giáo Sư Nguyễn Phan Quang: Rất có thể, Khôi rời vùng thượng du Hòa Bình nhằm cấu kết với các lang đạo họ Đinh, Quách dân tộc Mường và Lê Văn Khôi đã đi theo Lê Văn Duyệt
vào khoảng thời gian lãnh tụ Quách Tất Thúc cùng hai con đầu hàng Lê Văn Duyệt, rồi được gia nhập vào quân thứ.
Lê Văn Khôi đả hổ:
Tả tướng quân Lê Văn Duyệt giữ chức tổng trấn Nam Thành, dinh trấn đóng tại Gia Định, ông có tài lãnh đạo chỉ huy nên thời ông cai quản dân tình sung túc, buôn bán thịnh vượng. Bằng
chứng người Hoa kính thờ ông lúc qua đời như một vị thần. Bỗng nhiên năm đó khúc sông Gia Định có đàn cá sấu nổi lên chừng mười con, chúng rất hung dữ. Dân gán cho tên Hổ Phù
(cọp bơi dưới nước.) Chúng tấn công người ngay cả trên bờ, trên ghe, lôi người đi ăn thịt. Làm dân chúng Gia Định sợ hãi, bất an.
Cùng sự việc trên, khi dẹp giặc Phương Bắc quan lang Đinh Trang Nghị biếu Tả Tướng Quân một con ngựa …Chứng, sắc hồng, bờm nâu, hai mắt lồi đỏ tía, bốn đuì rắn chắc cao nghều
nghệu, bốn vó dựng đứng, ngày đêm chẳng chịu đứng yên. Hết hí lại tung vó, tiếng hí vang xa cả trăm dặm, khi cất tiếng hí người ở gần giật mình hoảng vía, lưng bóng mật…Nó cắn bất cứ
ai đến gần.
Tả Quân sắc (thông báo) khắp miền. Ai thuần phục được ngựa, giết cá sấu hổ phù sẽ được trọng thưởng tiền vạn quan. Còn cất nhắc lên làm quan to.
Bấy giờ quan Tuần Vũ Cao Bằng cử Khôi vào Nam Thành giúp Lê Văn Duyệt,
thấy Khôi tướng người to khỏe, đi nhanh như hổ, bước chắc như gấu, hai mắt sáng tinh anh, mặt mũi tuấn tú. Tả Quân thích lắm sai lính dọn tiệc, đãi rượu quý và bảo: Tráng sĩ từ vạn dặm
đến đây, chắc chưa được khỏe, nên tĩnh dưỡng, bồi bổ lưng mươi ngày, nửa tháng hãy ra tay cũng không muộn. Để chén rượu xuống mâm cơm Khôi bẩm: Cảm ơn ân tướng có lòng yêu,
nhưng hề gì ngày mai xin ân tướng cho hạ nhân thi thố trị ngựa, trừ sấu để dân sớm bình an và đáp lại ân sủng của thượng quan. Chuyện vãng hồi lâu, lính hầu đưa Khôi vào phòng ngủ.
Sáng ra, Khôi, Tả Tướng Quân cùng văn quan, võ tướng, quân sĩ trong dinh trấn ra chuồng ngựa, gần sát sân đấu trường. Mới nghe tiếng người lao xao ngựa đã tung vó hí vang trời, đôi
mắt rực lữa,. Như chực nuốt người, Khôi ung dung tiến lại mở cổng chuồng, nhanh như chớp ngựa ào phóng tới, Khôi lanh lẹ đưa tay chụp, bờm ghì thật chặt, thuận tay tát luôn vào mặt
bốn, năm tát nỗ đom đóm lữa, ngựa lồng lên dùng hai chân trước đạp tới, lách người qua bên trái, cũng vẫn ghì chặt bờm, và tát liên tục sáu bảy cú nữa. Những người xem xung quanh hết
sức lo sợ và rất hồi hộp. Khôi lấy thế tấn ghì bờm gần hơn, ấn thấp xuống thêm, rồi dùng loại dây thừng lớn buộc lại, khoảnh khắc nó thốc tới bằng hai chân trước sém vào bụng, nhờ nhanh
nhẹ Khôi thối lui nửa bước, đồng thời dùng tay phải bóp vào mũi nó như gọng kèm bằng sắt, khôi huơ tay trước mặt, nó quay lơ nơi khác, coi như thắng được hiệp một, Khôi định tung
mình nhảy lên lưng, nhưng dường như chưa chấp nhận, nó quay tròn thân thật nhanh nên không tài nào thực hiện được, anh ghì dây cương tán mạnh vào lưng ngựa mấy phát, lưng oằn
xuống, bấy giờ Khôi nhảy phót lên, nó liền lồng lộn, lao mạnh tới trước,vừa chạy, vừa dùng đôi chân sau đá hậu lên người cỡi, không ăn thua, nó cất hai vó trước thật cao, ý định hất Khôi
bật về phía sau, anh kẹp chặt hai chân vào nách, nó cụp tai đứng yên, thoạt dường như nó chuyển mình muốn phi, anh vẫn ghì cương khiến nó quay vòng vòng một chổ, coi như hiệp hai
vừa thắng
Sang bước tiếp theo cho ngựa phi, nó lao tới như cơn bão, vừa phi vừa đá hậu, có lúc người xem có cảm tưởng ngựa cho Khôi lộn cổ về phía trước hết sức nguy hiểm, anh nằm sát lưng
ngựa bám lấy bờm, ghì cương cho ngựa phi về hướng đã định trong đấu trường, cứ thế cho nó tha hồ tung vó, phi. Chừng hai chục vòng ngựa đã bỡ hơi tai, mồ hôi rịn ra kẽ nách, tốc độ
kém dần, nhưng Khôi thúc vào hông bắt phi thật nhanh, thêm mươi vòng nữa, bây giờ Khôi đã điều khiển nhanh chậm theo ý muốn, và ngựa đã sùi bọt nơi khóe mệng, không còn sức tung
vó đá hậu, đá tiền gì nổi nữa.   Khôi cho dừng lại trước mặt Tả Quân, hàng bá quan, quân sĩ. Trước sự thán phục của mọi người. Tả Quân Lê Văn Duyệt không tiếc lời khen. “Tráng Sĩ
người duy nhất trị được con ngựa bất kham, mà từ trước tới giờ không ai giám đến gần”
Diệt Sấu, hổ phù.
Khôi mượn dinh trấn mười khẩu súng lớn, ngày xưa gọi súng trụ, mười thuyền lớn chắc, tuyển một trăm lính nhanh nhẹn và khỏe, Khôi dặn lính bơi từ bờ ra giữa dòng, thấy động thế nào
sấu cũng lao theo tấn công, bấy giờ tôi bắn sấu, khi bắn thuyền giựt hậu tán vào bờ, thuyền sẽ bể ta tành, mấy anh vọt lên bờ cho thật lẹ, còn tôi ôm súng lao lên bờ sau đó. Với cách này
Khôi đã diệt gọn sáu con sấu, lật phơi bụng trắng phếu giữa sông, từ đây dòng Gia Định trở lại hiền hòa như xưa.
Tổng Trấn Lê Văn Duyệt rất mừng và nhận biết Khôi người có tài, không chỉ ở sức vóc mà thao lược, trí cao. Tả Quân phong Khôi chức quan phó vệ binh, và nhận làm con nuôi. Từ đó Bế
Nguyễn Khôi, hay Bế Hữu Khôi trở thành Lê Văn Khôi.
Đánh Hổ,
Bình sinh Tả Quân nuôi voi và hổ, hổ có nhiều trại, mỗi trại chứa chừng ba tới bốn chục cũi.
Một hôm Tả Quân cùng Sứ Thần Xiêm La (Thái Lan) ngồi trên khán đài xem võ sĩ đấu hổ, người dân chen chúc đứng chật đấu trường, Lê Văn Khôi ở trần mặc quần ngắn, tóc vấn gọn,
tay cầm đùi heo, hổ vừa xổ cũi hung dữ lao tới tát ngay mặt, Khôi hụp được cú thứ nhất vừa kịp xoay người, hổ cũng đập đôi chân trước thật mạnh xuống đất, đuôi hất qua bên trái búng
trở ngược lại, Khôi tung một côn, bồi thêm một cước hết sức mạnh, trúng đòn hổ dãy dụa ngay đơ, tắt thở.
Sứ Thần Xiêm vỗ tay khen thưởng, bỗng Tả Quân sa sầm nét mặt, hô quân sĩ trói Khôi đem đi chém, Sứ Thần ngạc nhiên không hiểu lý do nào, Tả Quân nói: Luật đấu trường không cho
giết, chỉ được phép bắt sống hổ thôi, nhờ Sứ Thần can gián và Lê Văn Khôi xin đấu lại để chuộc tội, Tả Quân ưng thuận.
Lần này con cọp xấp xĩ hai tạ dài hơn hai thước, lao ra. Đấu trường chiêng trống vang lừng, Khôi phải quyết đấu sinh tử, từng phút giây hết sức cam go, trước tiên anh giữ thế thủ cho cọp
hung hăng tấn công trước, mỗi lần nó dựng đuôi lên, cái đuôi trở thành gậy sắt, quật cũng dư sức chết người, đến lượt tấn công lần thứ ba chẳng nhằm vào đâu, coi bộ hơi núng. Vừa quất
đuôi sang phải tung cao thân trùm sà qua người, Khôi xuống tấn dùng tay trái gạt hai chi trước, đấm từ dưới lên ngay hàm hạ, lộn người tung cước trúng ngay bụng, cọp trượt theo đà chúi
mõm, lập tức Khôi lao theo đè bẹp bằng hai đầu gối và tay phải, dùng tay trái rút dây trói ghì, cọp đành thúc thủ. Lê Văn Khôi đến trước khán đài lạy chào Tả Quân, Sứ Thần và quan khách
trong tiếng vỗ tay chừng như vỡ cả đấu trường Gia Định thành.
So sánh với Võ Tòng,
Tình cờ qua núi Cảnh Dương trong người đã say khướt, nguyên dưới núi người bán rượu đã nói: Rượu quán tôi nồng độ rất mạnh, bất cứ ai uống ba chén, không qua nổi núi, nhưng Võ
Tòng bắt nạt chủ quán bắt phải bán đến hồi hết rượu mới thôi, Võ Tòng uống trước sau đến mười tám tô rượu mạnh, chếnh choáng ra khỏi quán, trực chỉ lên núi Cảnh Dương, chủ quán
kêu lại cảnh cáo: Nói cho ngài biết trên núi ấy có con hổ dữ tợn lắm, ăn thịt không biết bao nhiêu người rồi, quan phủ sai tráng đinh, phường săn lùng giết hàng mấy tháng nay, không ai
dám đến gần, muốn qua núi phải đợi giờ ngọ, mùi và phải kết lại từng đoàn mới qua núi được. Võ Tòng nghe nói chưa dứt, đã khoát tay và cho rằng; Ta mà sợ hổ thì không phải là anh con
trai giỏi trong đời này, thôi anh chủ quán ơi, đừng dụ ta ở lại qua đêm mà cướp tiền, ta đâu có ngu! Chủ quán tự ái và xua Võ Tòng cứ đi, cho chết. Thời này Trung Hoa dưới sự cai trị nhà
Tống loạn lạc dấy lên khắp nơi, đến nỗi thầy tu cũng đi ăn cướp (không nói thầy tu giả) thường chủ quán bỏ thuốc mê vào rượu, khách uống bất tỉnh sẽ bị cướp sạch, rồi giết lấy thịt làm
nhân bánh bao, phổ thông cướp giật thời ấy như vậy.
Võ Tòng đến lưng chừng núi, trời chạng vạng, rượu thấm nhập, anh thấy có biển đề, tiến lại gần xem, thấy nội dung giống như lời chủ quán noí, rảo bước tiến lên mặt trời càng xuống dần,
dưới những gốc cây lớn quan còn cho khắc vào thân cây cũng nội dung cảnh báo về con cọp hung hiểm. Càng vào sâu núi bóng đêm càng đen đặc, Võ Tòng có ý sợ, anh lẩm nhẩm.
“Mình lỡ nói mạnh với thằng chủ quán rồi, giờ trở xuống, nó cười cho chết,” trời đang tiết hạ, rượu ngấm sâu hơn, Võ Tòng nghe nóng bừng bừng, anh hất ngược chiếc nón nang ra đằng
sau, bứt tung hàng nút ngực, gậy cầm tay xấn bước. Lầm lũi qua đoạn đường núi khá dài, mệt nhứ nhừ Võ Tòng chọn phiến đá cao ngả lưng, mới vừa hiu hiu chớm ngủ, nghe gió gào vần
vũ, mùi khét lẹt đến tởm lợm, chồm bật dậy nhìn ra vùng cây đang lay động, Võ Tòng hét lên: Úi dà dà.!!! Một con cọp to tuớng xuất hiện, qua bốn bận vòng lượn, Võ Tòng dùng gậy quật
hết sức mạnh, nhưng hụt tầm, phan vào gốc cây đánh rắc, gậy gãy khúc, vất gậy chờ cọp lao đợt kế Võ Tòng ra miếng giáng cú đấm như trời giáng búa, trúng đòn đau. Cọp ngả chúi, túm
gáy một tay ấn mạnh, chúi dí mặt cọp sát đất, tay kia giáng cực mạnh và liên tục cho đến khi con cọp sặt máu mũi, máu miệng. Võ Tòng còn nện thêm sáu, bảy chục cú đấm liên hồi kỳ
trận.
Để tô vẽ thêm cho chiến công Võ Tòng đánh hổ, Thị Nại Am vô tình tả quan dân phủ huyện vùng Cảnh Dương thật đớn hèn. Trong khi đó vùng Tiên Phước Quảng Nam người nông dân
bình thường họ cũng biết dùng mưu trí, bẫy những con cọp to tướng và hung dữ khét tiếng một thời (xem Hồn Nước số 58)
Nói về đánh cọp, Võ Tòng còn thua xa Hắc Toàn Phong - Lý Quỳ cũng trong bộ Thủy Hử, chứ chưa dám sánh với Lê Văn Khôi, Lý Quỳ tên hung đồ, cuớp của, giết người như ngóe,
trường hợp Võ Tòng đánh cọp vì lỡ bước, vì lỡ lời với tay chủ quán và nhờ có rượu trợ lực,
Lý Qùy nhà nghèo, đi ăn cướp nhớ mẹ đói khổ, anh ta về cõng mẹ lên Lương Sơn Bạc, để hôm sớm hầu hạ, đường vòng vo qua núi trời tối đen, nhưng bà mẹ bị mù nên đâu biết, bà ta khát
nước cháy cổ, dục Lý Quỳ tìm nước, khẩn khoản đôi ba phen không được. Bà mẹ nói: Con ơi khi sáng ta ăn cơm khô, giờ khát qúa, mẹ chết mất con ơi! Lý Quỳ để mẹ bên hòn đá, đi hoài
đi hủy mới gặp khe nước, vục mặt cho đã khát, đến chừng ngẫn ngơ hai bàn tay trắng lấy gì đem nước về cho mẹ, Lý Quỳ chuyền cành cây qua lối núi vào miếu, dùng đá ghè cho bể lư
hương bằng đá, bứt cỏ lau sạch, lấy nước đem về. Hỡi ôi khi tới hòn đá, chẳng thấy mẹ đâu, kêu gào chỉ có tiếng núi rừng vang vọng lại! Cây gậy, chiếc khăn lăn lóc dưới chân đá, đi tìm
thấy cỏ rạp, vết máu be bét loang lỗ, biết mẹ bị cọp vồ, nghĩ lũ sài lang này chưa đi xa, lần theo dấu máu tới hang đấu với cọp. Diệt ngay con đực đầu đàn, hai con con cũng bị giết tốt, con
cái chui hang sâu, Lý Quỳ rút dao lưng đâm một nhát xuyên suốt hậu môn, vì ráng qúa sức cả cán dao chui tọt vào tận ruột, đành bỏ luôn dao.
Lý Quỳ đánh cọp trong bụng đói meo, cõng mẹ trốn chạy truy đuổi bởi quan quân, chạy suốt ngày, cõng chạy đường núi, vừa đói lại vừa khát. Lý Quỳ đánh hổ để báo thù cho mẹ.
Gần tết đọc mấy tờ báo xuân, thấy tao nhân mặc khách dùng chữ rằn ri, chi chi tận bên tàu, điển tích lâu la lâu lắc từ đời nhà Châu nhà Thương, thuở đất trời chỉ mới có khí âm, khí dương
tụ lại. Ô hô, cho ngọn bút mình cao thêm, Xuân Canh Dần trăm người viết đều nói mỗi Võ Tòng đả hổ, quê Võ Tòng bên tê Ải Nam Quan!
Bất giác vị trà Ô Lông ngọt ngào, vị ngọt thấm thấu đến tận lục phủ, ngũ tạng. Lại thêm đêm qua gọi điện thoại, mẹ dặn này Bút ơi. Nhớ khi xưa còn ở nhà con thích trà, mẹ bảo mấy anh
chị mua trà thật ngon cho con, mà đừng uống nhiều nghe con. Cứ trà với ca phê, thuốc lá cho lắm, ốm nhôm nhôm, nhìn hình mẹ buồn qúa con à.
Trời ơi! Mẹ thiệt lẩn thẩn, con coi ốm vậy chớ yếu xìu à!
Tết về nhớ mẹ, thương quê. Xắn tay áo viết bài:
Xuân Canh Dần nhớ Lê Văn Khôi đả hổ
                                                                                                                                         Ông Bút.
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!
Cung Chúc Tân Xuân
Chủ Trương:
Tạp Chí
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương