Hồn Tử Sĩ  
              
Truyện ngắn của Mimosa.
             (Phần hai)

ngươì ở đó. Tôi và Hương vừa thở không ra hơi, vừa kể cho mọi người nghe câu chuyện ở khúc quanh đường rừng. Mọi người chăm chú nghe và
góp ý:
- Hay là gió đưa đến tiếng nói của một nhóm người nào đang ở đâu đó trong rừng thông.
- Cũng có lý, nhưng tại sao tất cả lại ngừng bặt khi chúng tôi khám phá là không có ai ở đằng sau cả không lẽ tiếng vọng lại dừng lại đúng lúc vậy
sao? tôi nói.
Hương tiếp lời:
- Em cũng nghĩ như chị Phương.
Một ngươì hỏi:
- Hai bạn có nghe tiếng chân họ đi không, tiếng chân nện trên đất đó, vì chỉ con người thật mới đi có âm thanh.
Tôi và Hương nghệt mặt ra vì thật sự hai đứa không chú ý đến điều đó mà thật ra có ai để ý đến những điều vớ vẫn đó bao giờ cho đến khi mọi
việc kỳ lạ đã xảy ra. Một lát sau chị Thu là Chủ Nhiệm của hợp tác xã gọi tôi và Hương cùng vài chị em khác đến dưới một gốc cây thông và nói:
- Chuyện xảy ra không biết thực hư như thế nào, tôi không nghĩ Phương và Hương bày chuyện tuy nhiên chúng ta không nên để câu chuyện này
lan xa cho mọi người biết. Phương và Hương nên quên tất cả đi vì nếu nó đến tai các anh chị trên phòng Công Thương Nghiệp thì sẽ có ảnh hưởng
không tốt đến công tác trồng hoa màu của chúng ta. Họ lại cho là chúng ta là mê tín dị đoan hay là muốn phá hoại việc thi hành trồng mầu của
phòng đề ra nữa. Các chị em khác sẽ hoang mang, lo sợ khi phảỉ đi ở quãng đường rừng này. Mong chị em thông cảm cho.
Tôi và Hương ấm ức lủi thủi nhập vào đám đông để cuốc đất nhổ cỏ, làm việc nhưng đầu óc tôi vẫn bị ám ảnh vì những sự việc đã xảy ra ban
sáng. Tôi không thể giải thích được hiện tượng lạ lùng ấy, Hương bên tôi cũng đượm vẽ suy tư, trầm lặng. Nắng càng lên cao trời trở nên nóng
nực, ngươì nào cũng đổ mồ hôi nhễ nhại, tôi cảm thấy quá mõi mệt nhưng vẫn cúi đầu làm việc mặc dầu lưỡi cuốc hình như không ăn sâu xuống
đất mà chỉ phơn phớt trên mặt thôi. Tôi biết chắc rằng mình là một kẻ lao động tồi nhất ở đây, nhưng tôi không có sự lựa chọn nào khác hơn là im
lặng vung cán cuốc lên, hạ cán cuốc xuống mặc cho thời gian trôi đi trong vùng núi non hoang vu này. Ðến trưa mọi ngươì được nghĩ ngơi để ăn
uống, tôi và Hương đến một chỗ vắng dở gô cơm mang theo vừa ăn vừa bàn tiếp câu chuyện ban sáng, càng bàn càng không thể giải thích được gì
thêm cả. Chị chủ nhiệm ngồi đằng xa thỉnh thoảng đưa mắt nhìn hai đứa tôi. Tôi rủ Hương:
-Chị em mình xuống dưới đồi chơi, Chị thấy có mấy cái chòi dưới kia kìa.
Hương tán thành ngay:
- Phải đó em cũng thấy khát nước nhiều, tụi mình đi xin nước uống đi, buổi chiều còn làm mà nước gần hết rồi chị ạ!
Tôi và Hương đi xuống con dốc ngắn với đám cỏ tranh mọc thật dầy, một con suối hẹp chắn ngang và bên kia là một căn chòi bé xíu với mãnh
sân nhỏ đằng trước. Chúng tôi đi qua một mãnh ván bắt ngang con suối, một con chó ở đâu đó nhảy phóc ra sủa lên ầm ĩ làm hai đứa phải tháo
lui, một ngươì đàn ông bước ra la chó và hỏi to:
- Các cô cần gì?  Tôi và Hương đi vào sân, tôi nói:
- Chúng tôi đi xin nước uống. Người đàn ông đến gần nhìn chúng tôi dò xét rồi bỗng la to lên:
- A, cô Phương, cô Phương phải không? Tôi đang ngạc nhiên thì bỗng nhận ra đó là anh Tiến, anh của Kim Chi một người bạn gái đã từng có thời
gian làm ở tổng đài điện thoại ở một công sở với tôi. Tôi cũng mừng rỡ la lên:
- Anh Tiến hả, sao lại ở đây còn chị Thuỷ đâu ?
- Cô ta ở nhà còn tôi coi rẫy ở đây, mời các cô vô nhà chơi rồi nói chuyện.
Tôi theo anh Tiến vào nhà, nói là nhà chứ thật ra chỉ là một mái lá đơn sơ với một cái sạp trong góc, cái bếp ở góc đối diện có vài ba cái nồi và cái
ấm đen thui vì khói bếp. Anh Tiến đem mấy chiếc ghế đóng bằng gỗ thông thấp lè tè ra mời chúng tôi ngồi.
Anh nhìn tôi chăm chú rồi cười cười:
- Cô trông có vẽ tiến bộ đó!
Tôi trã lời:  - Thấy vậy chứ không phải vậy đâu, vẫn còn lạc hậu lắm lắm!
- Cô đi đâu mà lạc lỏng chốn khỉ ho cò gáy này?
- Ði lao động xã hội chủ nghĩa với tổ hợp thêu ở trên kia.
Anh Tiến gật gù:
- À ra vậy, tôi thỉnh thoảng có gặp mấy ngươì đi lao động như cô, họ trồng trọt quanh đây nhưng không bao giờ thấy họ thu hoạch hoa mầu cả.
- Sao vậy?
Anh cươì:
- Vì trồng rồi bỏ thí đó cho lũ thú rừng phá thì lấy đâu mà thu hoạch. Nói thật với cô tôi ở đây canh chừng luôn luôn mà còn không trị nổi mấy
con heo rừng nữa, làm còn chưa có ăn huống chi …
Hương góp chuyện:
- Họ bắt đi thì mình phải đi thôi chứ làm sao mà cãi được anh.
- Thì đúng là vậy đó! thời buổi khó khăn biết nói sao đây!
Tôi hỏi anh Tiến:
- Còn anh sao không phụ với chị làm bánh kẹo mà vô đây chi cho khổ vậy?
Hồi sau 75 tôi đến nhà Kim Chi chơi thấy anh Tiến phụ với chị Thuỷ là vợ anh làm bánh kẹo bỏ mối cho mấy cửa hàng ở Dalat, tôi nghĩ anh chị
cũng sống được lắm. Anh Tiến là Trung Sĩ của lính Cộng Hòa đóng ở Qui Nhơn, anh từng bị bắt làm tù binh và được thả trong một cuộc trao đổi
giữa 2 bên, anh vẫn còn bị ám ảnh nặng nề về những năm tháng trong nhà tù cộng sản.
Anh Tiến nhún vai:
- Ở đây dĩ nhiên là buồn nhưng ít thấy mặt mấy ông bà cán bộ, cán cuốc trong xóm, thấy họ hoài mình chẳng vui mà họ cũng chẳng mừng gì.
Tôi cười:
- Anh đã từng ở tù không lẽ họ bắt đi tù nữa sao mà sợ?
- Thôi cô ơi, mình có hồn thì giữ lấy hồn, một ngày đẹp trời nào đó họ thấy mình gai mắt quá nên kêu đi trình diện bên phường thì mệt lắm.
- À ra vậy, còn chị vẫn làm bánh kẹo chứ?
- Chứ không lấy gì mà sống, lâu lâu biếu xén cho họ một chút để yên thân mà nuôi lũ nhỏ cô ơi.
Tôi thở dài chép miệng:
- Ai cũng khổ cả.
- Còn cô chồng con ra sao?                                         
- Thì đang ở Suối Máu Biên Hoà. Em đi thăm được một lần cách đây hai tháng cũng chẳng biết chừng nào họ thả. Năm ngoái họ cho qua phường
làm đơn bảo lãnh chồng về, em cũng làm rồi nhưng ngày về ai mà biết được anh Tiến!
Anh Tiến thở dài:
- Thôi thì cũng phải ráng mà sống chứ cô, cả miền Nam chứ đâu phải riêng mình. Tôi thấy cô còn đỡ hơn mấy ngươì khác nhiều lắm, họ trông vô
cùng thảm thương Phương ạ.
Tôi cười buồn:
- Nói đúng ra em cũng còn có gia đình, cha mẹ để nương nhờ chứ nếu không thì cũng chẳng biết thân phận mình ra sao nữa.
Tôi nhìn ra vuông sân chan hòa ánh nắng trước mặt và nương rẫy chạy dài gần đụng chân đồi bên kia, cảnh trí trông vắng vẻ, buồn thiu .Tôi hỏi:
- Anh ngủ lại đây à?
- Thỉnh thoảng thôi với mấy người quen xung quanh đây, chúng tôi tụ họp lại chia phiên nhau mà ngủ có khi thức sáng đêm tán dóc rồi ban ngày
thì ngủ bù, ngủ một mình có ngày cọp tha đi mất!
Tôi trố mắt:
- Ở đây có cọp à?
-        Tôi nghĩ vậy thôi, ai biết đâu được! Thường thì tôi về nhà, về đến nhà cũng tám, chín giờ tối rồi hàng xóm chẳng ai thấy mặt. Sáng tờ mờ tôi
đã ra đi, vậy mà khỏe cô ơi, tâm hồn tôi bình an hơn là thấy mấy ông bà cán bộ, cán cuốc trong tổ, trong phường Ở chốn núi rừng này cũng có
cái hạnh phúc của nó, chẳng ai dòm, ai ngó. Cả ngày không có ai nói chuyện nên đôi khi
-        tôi nói một mình, lâu ngày thành thói quen tôi cứ lẩm bẩm khi về nhà
-        làm bà xã và các em sợ tôi bị khùng.
Rồi anh Tiến cười khằn khặc:
- Mà nói cho cùng sống với quân này riết rồi ai cũng khùng cả.
-        Khùng đã phước, chỉ sợ điên không ra điên khùng không ra khùng mới là mệt đó.
Tôi nhìn quanh rồi hỏi nhỏ:
- Ở một mình chốn đèo heo hút gió này anh không sợ sao?
- Sợ gì?
- Thì sợ đủ thứ …như ăn cướp, như ma chẳng hạng.
Anh Tiến cười ngặt nghẽo:
- Tôi có cái gì mà sợ bị ăn cướp, tôi không ăn cướp của người ta thì thôi chứ ai thèm ăn cướp của tôi. Còn ma hả, cô có tin là tôi sợ VC hơn là sợ
ma không?
Tôi nhăn mặt:
- Em định kể anh nghe chuyện này nhưng sợ anh không tin em và Hương vừa gặp ma.
- Vây sao? anh Tiến cười cười, có lẽ anh ta tưởng tôi nói đùa.
- Em không biết nữa và cũng chẳng giải thích được. Không phải  mình em cả Hương cũng chứng kiến.
Rồi tôi kể cho anh Tiến nghe những gì đã xảy ra với chúng tôi sáng nay, nghe xong anh hỏi lại:
- Chỗ khúc quanh có nhiều cây bị đốn nằm la liệt phải không?
Tôi và Hương cùng gật đầu: “đúng vậy, đúng vậy”.
Anh Tiến nói:
- Tại các cô không biết đó thôi, chứ mấy ngươì làm rẫy ở đây ai cũng biết ngay chỗ đó có rất nhiều chuyện lạ, buổi chạng vạng đi qua người ta nói
hay gặp nhiều bóng người lãng vãng ở đó!
- Ai lãng vãng ở đó, họ là ai vậy?
- Tôi nghe nói, nghe sao tôi kể lại như vậy thôi nghe! Tin hay không là quyền của các cô, cũng như những điều các cô đã kể ra tin hay không là
do sự suy nghĩ của mỗi người. Tôi nghe khoảng năm 1967,1968 có một số sinh viên trường Vỏ Bị Quốc Gia và lính đi kích ở nơi đó rồi đụng độ
với Việt Cộng, trận chiến đó làm chết rất nhiều người của cả hai bên. Từ đó mấy ổng hay hiện ra nơi khúc quanh ấy .Tôi đoán rằng mấy ông lính
đó rất là trẻ, đa số chưa vợ con, thấy mấy cô là đàn bà con gái nên ra trêu chọc vậy mà.
Tôi và Hương hét lên:
- Anh nói ghê quá! Người chết rồi mà còn chọc gái à?
- Chứ sao, họ chết khi còn quá trẻ khi những ước mơ và khao khát chưa thực hiện được, nên họ còn lang thang, lẩn quẩn ở đó. Tội nghiệp lắm,
mà có khi họ không biết mình đã chết nữa cũng không chừng.
- Nhưng tại sao họ lại xuất hiện ban ngày, đâu phải là thời gian của họ? Hương hỏi lại.
Anh Tiến cười hề hề:
- Ngày đêm gì, thấy mấy cô gái đẹp mấy ông đó quên cả luật lệ cuả cõi âm nên chạy ra chọc ghẹo vậy mà. Ðàn ông, con trai mà.
- Anh nói làm tụi em muốn nổi da gà, lần sau cho vàng tụi em cũng không dám đi một mình qua đó nữa. Mà anh Tiến à, anh nói thật chứ? Chỗ đó
có ma à?
- Con hai cô, hai cô nói thật chứ, hai cô nghe họ nói chuyện, nghe họ trêu ghẹo à?
- Nói láo để làm gì kia chứ!
- Thì tôi cũng vậy thôi.
Trò chuyện một lát, chúng tôi kiếu từ anh Tiến để trở lên đồi, anh đưa chúng tôi ra đến con suối rồi nhìn tôi ái ngại:
- Thôi hai cô lên làm việc đi kẻo họ mong, mà Phương này, cô cũng chẳng nên làm chi cho quá sức vì không có thu hoạch đâu, mà thật ra cũng
chẳng có ai chờ sự thu hoạch - kể cả họ và cô – chán lắm! Dù sao cô cũng ráng mà sống vui, ráng mà phấn đấu “sông có khúc người có lúc” cô
ạ! Anh Tiến đoán đúng. Sau lần đó, một hai tuần sau chúng tôi còn đi thêm đôi ba lần nữa rồi thôi. Trên Phòng cũng không ai nhắc đến ngày thu
hoạch hoa mầu, dù hình ảnh của phong trào đi Lao động Xã hôị Chủ Nghĩa vần treo tùm lùm trong cơ quan, trong hợp tác xã. Ðúng là“đầu voi
đuôi chuột”. Những lần đi sau tôi và Hương đều cố gắng theo kịp đám đông khi rẽ vào bìa rừng, nhất là qua khúc quanh có những thân cây nằm
ngổn ngang kia! Tôi rất sợ nếu phải “gặp họ” thêm một lần nữa, dù thật ra họ chẳng làm hại gì tôi, chỉ là những câu trêu chọc bình thường cuả đàn
ông, con trai khi gặp người khác phái.Tuy nhiên sự khác biệt của hai thế giới đã làm cho tôi e sợ, tôi mong là họ sẽ hiểu điều đó và thông cảm cho
tôi mà không nhát tôi nữa. Kỷ niệm về những ngày lao động trong chân núi Voi thường mang đến cho tâm hồn vốn đa cảm của tôi nhiều xúc
động. Một người phụ nữ còn quá trẻ đã phải xa chồng, cô đơn và lạc lõng giữa một xã hội giả dối tráo trở, sự sợ hãi, lo âu đè nặng trên hai vai,
con người thiếu thốn từ tinh thần đến vật chất. Những buổi chiều mệt lả người trở về từ một ngày đày đọa thân xác, qua những đồi thông vàng óng
ánh nắng hoàng hôn bỗng dưng vang vọng đâu đó giọng ca của Tôn Thất Niệm trong bản Chiều Vàng cuả Nguyễn văn Khánh …Trên đồi thông
chiều đã xuống rồi, mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng …Riêng mình ta ngôì ngắm quanh trời ngậm ngùi nghe tiếng chim chiều gọi đàn …buồn xa
vắng buồn lòng thầm nhớ đến người chiều vẫn trên đồi cùng ta …Ta nén đau thương gắng bước hoài  chiều chiều nhớ ai khôn lòng nguôi …
Ai đã từng ở Dalat chắc không thể nào quên giọng ca Tôn Thất Niệm, một giọng ca trầm ấm truyền cảm mà khó có ca sĩ nào bì kịp dù ông là một
ca sĩ tài tử của đài phát thanh Dalat. Khi đã nghe ông hát bài Chiều Vàng rồi thì tôi không muốn nghe bất cứ ca sĩ nào hát nữa. Tiếng hát Tôn Thất
Niệm hòa quyện, lãng đãng với tiếng gió vi vu qua đồi thông với sương mù bay bay những sáng mai lạnh cóng hay những đêm co ro trong chiếc
áo manteau trên khu phố Hòa Bình. Tiếng hát tuyệt vời đó đã ra đi không bao giờ trở lại sau cuộc đổi đời của miền Nam và Dalat nói riêng. Nếu
Tôn Thất Niệm biết chúng tôi -dân Dalat- đã yêu giọng ca ông như thế nào …Tôi không còn được thưởng thức tiếng hát một thời của thành phố
mù sương và cái đời sống với đầy bất trắc trước mắt hằng đêm xô đẩy tôi vào những cơn mộng dữ, tôi đã phải sống như thế: tuyệt vọng, mỏi mòn
đau đớn cho đến một ngày …























Những năm tháng dài u uẩn đó rồi cũng ra đi như giòng sông chảy băng băng cuốn theo rác rưới nhọc nhằn. Bây giờ thì tôi
đã quá xa Dalat, xa những chiều vàng trên đồi rong chơi hay là những chiều rã rời mệt mỏi, thất thểu trở về sau một ngày lao động, tiếng hát ngày
xưa bây giờ ở nơi nao. Còn tôi người đàn bà trẻ thơ ngày nào giờ tóc đã bạc màu. Người tù cải tạo năm xưa, người đã trao tặng cho tôi những ngày
tháng cô đơn, đau đớn, tuyệt vọng trong chờ đợi mỏi mòn rồi cũng như một loài chim trời cất cánh bay đi tìm một vùng trời nào đó mà không cần
sự có mặt của tôi. Không hiểu rồi người có tìm được những gì người muốn tìm, không hiểu người có hạnh phúc như người vẫn mong. Còn tôi
nhiều tháng năm bất hạnh trong một nhà tù rộng hơn những nhà tù cải tạo đã ám ảnh, dằn vặt tôi không nguôi. Tôi như kẻ bị đánh cắp môt thời
tuổi trẻ cuả mình và không thể bắt đầu lại trong những tan hoang đổ vỡ của đời sống trong sự tan nát một mái gia đình, dù rằng tôi đã ra đi, đã
chối bỏ cái nơi chốn mà đáng ra mình phải yêu thương và bám víu cho đến hơi thở sau cùng. Ðó là quê hương.
Khi tôi viết những giòng chữ này, tháng Tư sắp trở về với mọi người trên trái đất này, tháng Tư oan khiên, tàn khốc sắp trở về với dân tộc Việt
Nam. Tháng Tư tang thương đã xô đẩy con người vào hỏa ngục trần gian trong đó có tôi, người đàn bà vô danh tiểu tốt trong hàng triệu người dân
của miền Nam Việt Nam. Tôi, một kẻ trong những người bất hạnh chịu nhiều hệ lụy trong cuộc dâu bể tang thương cuả đất nước. Tôi đã sống một
thời gian rất dài hình như không có nụ cười thật sự - nếu cười không có nghĩa là một động tác nhe răng ra. Những buổi sáng mở mắt ra đã thấy
buồn co thắt con tim và những ngày dài thất thỏm lo sợ triền miên …Cái quá khứ đau khổ ấy vẫn ám ảnh tôi một cách dai dẳng, sâu đậm dù thật là
nhiều năm tháng đã trôi qua và tôi vẫn tự nhủ: hãy quên đi, hãy quên đi mà hưởng lấy những hạnh phúc mình đang có. Có thể mình đang có những
cái mà nhiều người đang ao ước mà không được, mình đang hạnh phúc, nhưng có thể nào mình sẽ chôn vùi tất cả vào nấm mộ không tên rồi mặc
cho thời gian mang tất cả vào hư vô, quên lãng. Rồi cũng xong một kiếp người.
Nấm mộ không tên tôi đã vô tình vùi lấp mấy chục năm qua sao sắp đến tháng Tư nay lòng tôi bỗng bồi hồi xao xuyến khi nhớ lại. Cái cảm giác
đau đớn, cô đơn xưa bỗng trở về bất chợt. Tôi đang đi trong phố xưa Dalat, thành phố im lìm câm nín và những con người qua lại với những nét
mặt thất thểu, lo âu. Nổi lo sợ không tên bao trùm mọi cảnh vật. Giọng hát nào the thé cất lên làm không gian tê tái nhuốm thêm màu sắc thê
lương chán chường. Rồi con đường đi sâu vào khu rừng thông trong những ngày lao động Xã Hội Chủ Nghĩa, những buổi chiều trở về mệt mỏi rã
rời, những buổi họp dân phố ban đêm với những khuôn mặt hằn nét thù hận và giọng điệu chì chiết đanh thép. Họ đã nói những gì, họ đã tuyên
truyền những gì … tôi không còn nhớ hay chẳng cần phải nhớ …
Trong nổi đau xưa xin cho tôi được một lần thắp nén hương lòng hoài niệm những linh hồn tử sĩ trên quãng đường trong khu rừng thông ngày
xưa. Họ đã chết rất trẻ khi những ước mơ, khao khát riêng tư chưa trọn vẹn. Có những người chưa biết đến vòng tay hay nụ hôn của một người
tình. Có thể rằng họ chưa biết rằng họ đã chết như ngày xưa anh Tiến đã nói. Dù sao họ cũng không bao giờ già đi, còn tôi người phụ nữ trẻ mà
có lần họ đã buông lời trêu ghẹo nay tóc đã pha sương. Ðứa con trai tôi  sanh sau ngày chồng tôi đi tù về nay đã xấp xĩ tuổi họ. Ðứa con trai tôi
may mắn hơn họ vì đã lớn lên trên một đất nước giàu có và chưa biết mùi vị của chiến tranh. Nhưng con trai tôi hoàn toàn giống họ với những mơ
ước, khát khao của tuổi trẻ và nhất là lòng ưu ái, thích thú khi gặp người khác phái …Nhìn con tôi càng cảm thương hơn những người lính trẻ
miền Nam đã hy sinh  đã đổ máu cho nền tự do của quê hương. Những người trẻ đã nằm xuống ở khúc quanh trong khu rừng thông xưa có ai biết
đến, linh hồn họ hình như còn vất vửng đâu đó và những hoài vọng của họ, những ước mơ của họ  cũng chẳng ai biết hay cũng chẳng ai cần biết
đến. Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bao nhiêu nước chảy qua cầu, bao nhiêu thay đổi, đổi thay kể từ ngày đó. Người mẹ với cánh tay bao dung đã
che chắn đời tôi trong những ngày trầm luân gió bão giờ cũng đã nằm yên nghĩ trên một ngọn đồi tĩnh lặng trong thành phố quê hương bên cạnh
ba tôi, người đàn ông đã chia xẻ với mẹ 60 năm trên con đường trần gian buồn nhiều hơn vui này. Anh em chúng tôi mỗi người một ngả trong
những xứ sở xa lạ nào đó chưa một lần đoàn tụ trong mái nhà xưa, mái nhà có dàn hoa tím trước cổng và cây hoa ngọc lan hương thơm ngan
ngát. Mái nhà tôi vào ra suốt thời tuổi nhỏ và là nơi tôi về nương náu quảng đời giông tố trong trái tim yêu thương của mẹ hiền. Tôi chưa trở về
Ðalat lần nào để thăm viếng. Nhiều người nói với tôi Ðalat bây giờ thay đổi nhiều lắm và đẹp lắm, nhưng cũng có nhiều người nói những lời hoàn
toàn ngược lại: bây giờ Dalat nhà cửa xây cất vô trật tự, thiếu thẫm mỹ và không còn vẽ đẹp thiên nhiên như ngày xưa nữa. Ðồi Cù thì đã trở thành
một nơi cho những kẻ có tiền còn dân nghèo thì đừng hòng bến mãng đến. Tôi không biết tin ai, tôi chỉ nhớ ngày tôi ra đi Ðalat vô cùng nghèo
nàn, héo hắt như con đường Phan Ðình Phùng sình lầy, nước đọng sau những cơn mưa.
Dù sao tôi cũng muốn về Dalat một lần, đi trên đồi thông để hồn chìm lắng trong giọng ca dĩ vãng trữ tình cuả Tôn Thất Niệm với Chiều Vàng,
Nổi Lòng, Tạ Từ … Ði qua vùng Bờ Hồ để nhớ những ngày giông bão, đọa đầy cũ. Cũng có thể tôi sẽ một lần trở lại khúc quanh xưa, nơi có
những oan hồn lẩn quẩn để thắp lên một nén nhang hoài niệm, tạ ơn những anh hùng vô danh đã hy sinh cho nền tự do của Miền Nam Việt Nam.
Cũng có thể trong đó có những oan hồn, yểu tử cuả phía bên kia thì cũng cầu xin cho họ sớm siêu thoát, vì dù sao họ cũng chỉ là nạn nhân của
một chủ nghĩa đầy tham vọng và không tưởng mà thôi  Trong thế giới người chết chắc chẳng còn thù hận, oán hờn nữa đâu. Họ đã chết thế là
xong chỉ trách cho những người còn sống đã từng thấy, đã từng đi qua con đường thê lương, đổ nát, đọa đầy của một dân tộc mà vẫn mang tâm
trạng mù lòa hay làm như đã quên đi tất cả hay tệ hại hơn còn muốn sơn phết lại, tân trang lại những thối rữa cuả quá khứ mà đã có một thời họ
đâm đầu chạy trốn.
Có những kỷ niệm quá đau thương, quá tàn nhẩn tôi biết phải chôn lấp chúng nơi đâu trong ký ức. Xin một lần nữa được ngậm ngùi đọc lên một
đoạn thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ Sĩ Ðoàn thị Ðiểm và xin trang trọng gởi một chút tâm sự mộc mạc đến những ai vẫn còn mang
trong tâm hồn vết hằn đau thuở nọ để gọi là chút duyên tri kỷ của những người đồng điệu:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.
                                                                              
    MIMOSA
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!
Cung Chúc Tân Xuân
Tạp Chí

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Được phổ biến đến Độc Giả qua mọi miền đất nước:
Hoa Kỳ - Pháp - Úc - Canada - Việt Nam …
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com
Or:     hiepnguyen930@yahoo.com
Cell:   678-770-1497