Hồn Tử Sĩ
Truyện ngắn của Mimosa.                   
(Phần một)

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy ngươì
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
                           Chinh phụ ngâm.

Câu chuyện xảy ra rất nhiều năm về trước khi tôi còn là một người đàn bà rất trẻ, chưa quá 25 tuổi sau khi miền nam Việt Nam mất vào tay cộng sản. Chồng
tôi bị bắt đi học tập cải tạo (đó là những danh từ mỹ miều mà họ đặt ra để đánh lừa mọi người chứ thật ra phải gọi là đi tù mới đúng). Chồng đi tù tôi về
nương náu nhà cha mẹ với đứa con gái chưa đầy 2 tuổi.Thật đúng nghĩa “nửa thầy, nửa thợ” vì tôi chẳng biết làm gì để sống, mà dù có muốn đi làm cũng
chẳng ai cho đi. Tôi thử nạp đơn xin làm lại ở một ngân hàng mà ngày trước tôi đã từng làm cách Dalat chừng 30 cây số và dĩ nhiên là bị từ chối. Tôi rất lấy
làm áy náy cho hoàn cảnh bi đát của gia đình cha mẹ tôi thuở bấy giờ.
Nhà có 4 người con trai thì đi tù hết 3 người chỉ còn thằng em út 12 tuổi và một lũ con gái chưa đứa nào có chồng (trừ tôi có chồng đi tù thì cũng kể như
không). Chúng tôi sống nhờ sự lanh lẹ của mẹ tôi, dù trước kia ba tôi là công chức mẹ chỉ ở nhà lo việc nội trợ. Sau 75 cả nhà thất nghiệp mẹ phải ra chợ,
mới đầu là bán đồ đạt trong nhà sau đó những người hàng xóm gởi đồ đạt nhờ bán giùm, dần dần mẹ tôi trở thành một người buôn bán chợ trời bất đắc dĩ. Mẹ
tôi cũng chẳng được tự do để làm người bán chợ trời bất đắc
dĩ, bởi mấy bà Tổ Trưởng, Tổ Phó trong xóm gặp mẹ tôi cứ nói xa nói gần những lời sặc mùi xã hội chủ nghĩa đại khái như: bà Bảo (tên ba tôi) chưa chấp
hành tốt đường lối của nhà nước ta, nên còn mua bán linh tinh. Bà Bảo không biết hưởng quyền lợi chính trị cuả nhân dân mà nhà nước đã ban cho (nghĩa là
không chịu đi họp tổ dân phố mỗi đêm). Bà Bảo chưa biết giáo dục con cái tốt theo đường lối của nhà nước ta (nghĩa là con cái không đứa nào có việc làm)
Mà trời hỡi việc có đâu mà làm, ai cho làm với cái lý lịch gia đình “nặng nề” như gia đình chúng tôi.
Mỗi lần nghe bọn họ chiếu cố nhiều đến gia đình chúng tôi mẹ tôi chỉ cười trừ rồi nói giả lả cho qua chuyện:
- Tụi nhỏ cũng đang kiếm việc làm ngặt nổi lý lịch gia đình tôi không “trong sạch” mấy nên cũng có đôi chút khó khăn.
- Bà Bảo không quán triệt đường lối của nhà nước ta rồi, nhà nước ta bao giờ cũng khoan hồng cả, ai làm tội người ấy chịu. Các con trai của bà mắc tội với
nhân dân thì phải đi học tâp cải tạo, càng học nhiều càng tốt chứ có sao đâu!!! Còn các con gái bà thì có ảnh hưởng gì đâu, mà nói bà đừng buồn chứ các cô
ấy còn bị ảnh hưởng đời sống “phồn hoa giả tạo của Mỹ Ngụy” nhiều quá. Cần phải được giáo dục thêm.
Mẹ tôi nhịn hết nỗi nên dằn giọng:
- Bà nói vậy nghĩa là sao, các con gái tôi làm gì xấu xa mà bà nói tôi không biết dạy chúng, tụi nó làm gì mà còn bị ảnh hưởng đời sống phồn hoa giả tạo cuả
Mỹ ngụy.
Thật sự mà nói mẹ tôi cũng không phải là một người mà ai muốn nói gì cũng được, tính bà cương nghị như đàn ông, mấy bà trong tổ phụ nữ cũng dư biết
điều đó, họ ghét mẹ tôi nhưng chẳng làm gì được, mẹ tôi như con gà mái lúc nào cũng xù to đôi cánh để bảo vệ con cái và lũ chúng tôi nấp sau lưng bà như
lũ gà con tội nghiệp. Thấy mẹ tôi nổi sùng bà tổ trưởng làm hòa:     
Chẳng qua là lối ăn mặc của các cô ấy không phù hợp với thời buổi kinh tế mới là mấy.
Mẹ tôi cười khẩy:
Bà muốn nói tới mấy cái quần tây, mấy cái quân din (jeans) tụi nó hay mặc đó hả. Có gì tụi nó mặc đó, không có việc làm lấy tiền đâu mà mua quần đen bộ bà
tưởng vải đen rẽ lắm hả. Mặc gì thì mặc miễn không hở hang thì thôi. Còn người Liên Xô, họ cũng là nước xã hội chủ nghĩa đàn bà họ cũng mặc quần din đó
thì có sao đâu?
- Họ khác mình khác.
- Chẳng có gì khác cả, cũng anh em vô sản chuyên chính với nhau thôi!
Mẹ tôi về nhà hay kể chuyện cải lý với mấy trong hội phụ nữ cho chúng tôi nghe, tụi tôi đứa nào cũng khen mẹ tôi rối rít những lúc đó ba tôi thường hay la tụi
tôi:
Mẹ con tụi bây nhiều chuyện quá. Còn bà coi chừng có ngày bà cũng vô nhà đá mà nằm thôi( phường tôi trước kia có một cái villa bằng đá cuả người Pháp
xây từ lâu rồi, sau 75 chính quyền cộng sản trưng dụng làm nhà tạm giam và điều tra những thành phần phản động trong phường ấp). Trong gia đình này đi
tù chừng đó người chưa đủ hay sao? Ăn thua làm chi với bọn trở cờ, gió chiều nào chúng theo chiều đó, chấp nhất gì bọn tiểu nhân.
Mẹ tôi nói:
Bọn đó mới là đáng ghét nhất. Tôi nói thật với ông, có cho vô nhà đá tôi cũng chẳng sợ đâu. Bữa hôm đi thăm thằng Bình nghe nói tụi nó bắt con tôi làm trâu
bò kéo cày lòng tôi đau đớn quá, còn thằng Phan, thằng Lễ nữa …Trời ơi tôi đâu có muốn sống đâu, ngặt nổi còn lũ con gái này, tôi mà chết thì tụi nó ra sao
đây. Còn mấy đứa cháu nữa …khổ quá trời ơi là trời!!!
Rồi mẹ khóc òa lên làm bọn tôi cũng khóc theo, ba tôi chặc lưỡi:
- Bởi vậy tôi mới khuyên bà là phải nhường nhịn chúng nó. “Sông có khúc người có lúc” bà à, vận nước gặp cảnh tang thương ai ai cũng khổ chứ có riêng
mình đâu.
Tôi nhớ có lần theo mẹ đi ra chợ trời, tôi mang bán mấy cái áo dài và áo đầm vì không còn dịp để mặc nữa. Mẹ tôi căn dặn tôi phải trông coi cho kỹ không
thôi bọn gian sẽ đánh cắp và khi bán phải biết nói thách để cho họ mặc cả. Tôi hể nói giá nào là bán giá đó nên không ai thèm mua. Tôi đi theo mẹ được vài
ngày thì bà kết luận: Con thật thà quá không buôn bán được đâu, đã vậy tôi còn mắc cở nữa, cứ lấy nón lá che mặt chẳng dám nhìn lên. Mẹ tôi nói:
Không có gì phải xấu hổ, mình không đi ăn cắp thì việc gì phải mắc cở. Nhìn mẹ nè, có gì xấu xa đâu.
Tôi dạ dạ, vâng vâng nhưng thấy làm sao ấy, mình lại đang lê la ở nơi cầu thang chợ. Nơi mà những ngày xưa mình hay qua lại rong chơi, có lần tôi đang loay
hoay giữa chợ thì gặp thầy Nguyễn Bào là giáo sư toán của tôi hồi học lớp Ðệ Nhị thầy trò nhìn nhau ngỡ ngàng. Thầy hỏi:
Ai đây?
Tôi trả lời:
Cô Chiêu!
Thì thầy nhận ra tôi là học trò của thầy ngay. Thầy có thói quen gọi học trò là cô Chiêu và cậu Ấm. Thầy hỏi tôi về hoàn cảnh gia đình rồi thở dài. Gặp thầy
xong tôi thấy tủi thân muốn khóc.
Tôi không còn gặp thầy lần nào nữa từ đó. Tôi có hân hạnh được làm học trò của những thầy khá nổi tiếng như thầy Ðàm Quang Hưng giáo sư toán hay hát
bài Cô Lái Đò cho cả lớp nghe. Thầy Tạ Ký giáo sư việt văn đã qua đời, thầy đọc thơ rất hay bằng giọng người Quảng Nam rất đặc biệt. Thầy Phạm Kế Viêm
giáo sư toán có đôi mắt rất đẹp như tài tử cinéma. Thầy Ðào Quang Huy giảng Truyện Kiều cả lớp chăm chú nghe quên cả giờ ra chơi vì thầy giảng quá
hay…  
Tôi đi chợ trời được vài lần rồi thôi vì mẹ nói tôi không có duyên bán hàng. Mẹ tôi nói cũng không đúng lắm, vì sau này khi chồng tôi đi tù về, tôi có thêm
một đứa con nữa rồi chúng tôi gãy đổ. Một nách hai đứa con tôi cũng phải lăn xả vào đời để nuôi con. Chuyện vợ người tù cải tạo của riêng tôi nó còn cái
đoạn hậu tràn đầy nước mắt ít ai bì kịp!!!
Khi chồng đi tù hơn một năm thì có lệnh của phường đưa xuống: tất cả phụ nữ có chồng đang học tâp cải tạo trong thành phố Dalat (tôi chỉ biết về Dalat chứ
những địa phương khác thì tôi không biết) được làm đơn bảo lãnh cho chồng về (Thật ra đây cũng là một trò trấn an và lừa đảo của bọn họ thôi - mà sau này
tôi mới hiểu - bởi vì sau đó 7,8 năm chồng tôi vẫn chưa về) Tất cả mọi người mừng rỡ rủ nhau qua phường nạp đơn. Nạp đơn xong thì họ cấp cho mỗi người
một bản kê khai lý lịch, bản kê khai lý lịch cũng chẳng có chi là khó nhưng đến tiết mục: “so sánh đời sống của gia đình hiện nay với đời sống trước năm
1975” thì tôi bí. Tôi bèn hỏi ông Sáu Lắm là Tổ Trưởng tổ dân phố cho tôi biết ý kiến ghi làm sao cho chồng mau được về. Ông Sáu Lắm nói:
- Chẳng có gì là khó, cháu cứ nói sự thật thôi!
- Sự thật như thế nào hả chú?
- Sự thật là sự thật như thế này: gia đình tôi trước khi giải phóng rất khó khăn về kinh tế từ hồi giải phóng xong thì đời sống có phần dễ chịu và no ấm hơn
nhiều!
À ra là vậy mà tôi ngu quá không hiểu. Trong buổi làm đơn bảo lành cho chồng tôi quen được một chị tên Mai Linh (cũng có chồng đi tù như tôi). Chị ăn nói
có vẻ nhỏ nhẹ và trí thức, chị hỏi tôi làm gì rồi khuyên tôi nên  vào tổ hợp thêu mà làm với chị cho vui, ở trong các tổ hợp họ không cần để ý đến lý lịch
nhiều  lương tiền không bao nhiêu nhưng tránh đươc những đôi mắt cú vọ cuả mấy bà phụ nữ trong xóm. Sau 75 thì tất cả mọi gia đình phải vào tổ dân phố
hết chứ trước đó thì tôi hầu như không biết ai cả vì nhà tôi ở trên một ngọn đồi nhỏ khá xa với làng xóm bên dưới. Khi vào tổ dân phố thì gia đình tôi có
nhiệm vụ phải sinh hoạt với mọi người trong xóm và trong những buổi sinh hoạt đó là những dịp tốt cho họ dòm ngó và phê bình gia đình tôi. Có nhiều lần họ
còn đề nghị cho gia đình tôi đi Kinh Tế Mới dù ba mẹ tôi có nhà cửa đàng hoàng và đã trú ngụ gần 40 năm ở Dalat. Lần đó ba tôi phản ứng mạnh, ông nói thà
chết chứ không bỏ cơ ngơi mà ông đã gầy dựng bao nhiêu năm cho người khác hưởng. Thấy ba tôi cương quyết quá họ đành chịu thua.
Chị Mai Linh nói đúng, vào tổ hợp thêu Hoa Phong Lan rồi thì tôi sáng sớm 7 giờ ra đi, chiều 7giờ về nên không bị dòm ngó nhiều nữa, tôi lại lấy cớ là hằng
ngày có hưởng quyền lợi chính trị trên tổ hợp thêu rồi (họp hành) nên thỉnh thoảng có thể từ chối quyền lợi ở địa phương.
Mỗi buổi sáng tôi phải dậy sớm đón xe lam đi ra phố và từ phố lên đến tổ thêu mất chừng 15 phút. Nói nghe thì vô lý nhưng tất cả là sự thật: đi làm mỗi tháng
được chưa đến
50 đồng mà tiền xe lam đã gần 100 đồng rồi, nếu làm đủ sản phẩm thì được 12 ký gạo mua theo giá nhà nước. Tôi cố gắng làm cho đủ chỉ tiêu để lãnh gạo
phụ với mẹ tôi nuôi con và nuôi cháu, anh tôi đi tù chị dâu cũng dẫn mấy đứa cháu nội về ở chung trong nhà  (mẹ tôi thỉnh thoảng còn phải đi thăm tù nữa
thật là “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”). Chỉ cái việc dành một chỗ trên xe lam buổi sáng cũng đã là quá khó khăn chẳng còn ai biết lịch sự và lễ độ nữa,
mạnh ai nấy dành, mạnh ai nấy chen lấn, nếu ngươì nào lịch sự thì chỉ có nước đứng ở bến xe cả ngày. Nhìn xung quanh mọi ngườì đều không che dấu được
sự nghèo đói, khó khăn, từng khuôn mặt biểu lộ niềm lo âu, khắc khoảỉ. Trong khi đó chiếc loa phóng thanh gắn trên mấy cái cột đèn cứ ra rả nói về thắng lợi
của vụ mùa đông xuân, mùa hè thu. Giọng những người xướng ngôn viên gằn gằn từng câu nịnh bợ, ca ngợi xã hội chủ nghĩa, ca ngợi bác và đảng. Lâu lâu
tin tức ngừng lại nhường thời gian cho các giọng ca the thé với những âm điệu thật chói tai, với những bài hát đượm mùi tử khí như bài: Cô gái vót chông, bài
có cái câu: “còn giặc Mỹ cọp beo có còn giặc Mỹ cọp beo …”nghe mà phát khiếp. Họ có biết đâu dân miền Nam đã chán họ đến đầu đến cổ, ngươì dân tìm
an ủi hạnh phúc khi lén nghe đài ngoại quốc và kể chuyện vượt biên. Thành phố Dalat, một thành phố du lịch nổi tiếng đẹp và sang bỗng trỡ thành héo hắt với
những dãy phố đóng cửa im lìm. Nhiều hôm đang đi giữa phố lòng tôi bỗng quặn đau, thương nhớ những ngày vui xưa.
Còn đâu khu Hòa Bình với những chàng sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia trong y phục muà đông màu rêu đậm khi hoa quỳ bắt đấu thắp vàng trên những
ngọn đồi trong thành phố. Hàng cây anh đào ven hồ Xuân Hương trỗ hoa hồng thắm và phiên chợ Mùa Ðông dập dìu tài tử giai nhân trên Domaine de Marie.
Phố xá vui tươi nhộn nhịp với muôn ngàn màu sắc. Những cô gái hai má ửng hồng trong màu áo len dịu dàng và e ấp, những thiếu nữ trường Lycée Yersin
với những bộ cánh tây phương sang trọng hợp thời. Học sinh nội trú Couvent des oiseaux, Franciscan, Nazareth, Lasan D’ Adran, sinh viên trường Ðại Học
Chiến Tranh Chính Trị,trường Chính Trị Kinh Doanh…nữ sinh trường Bùi thị Xuân với áo len màu xanh đậm trên đồng phục trắng, nữ sinh trường Việt Anh
với áo dài màu tím hoa cà thơ mộng …mọi người đổ xô ra khu phố Hòa Bình, Café Tùng, Mékong, nhà Thủy Tạ, Ðồi Cù  trong những ngày cuối tuần tạo cho
Dalat một sắc thái dặc biệt tây phương mà không có một thành phố nào ở Việt Nam có được.
Bây giờ không còn gì nữa cả, Dalat trở nên đói nghèo khốn khổ, cầu thang chợ lầu trở thành tụ điểm cuả dân chợ trời, mọi người rủ nhau ra đó để mua bán
kiếm ăn qua ngày. Công an xua đuổi nơi này họ chạy đi nơi khác, mọi người trở nên lam lũ tội nghiệp không sao tả được. Tôi đi qua phố Dalat nghèo nàn, héo
hắt đó mỗi ngày và nhiều lần tôi phải cúi đầu để dấu giọt nước mắt xót xa thương cho thành phố quê hương của tôi, thương cho thân phận bất hạnh cuả mình.
Trong niềm tiếc nuối vô biên cho phố xưa lời thơ bỗng vang vọng trong tôi:
 Tôi nhớ thành phố xưa
 Đôi ta qua nhiều lần
 Nắng vàng trong phố ấm
 Ôi thương thuở đời xanh.
Trong tổ thêu (sau này được gọi là hợp tác xã Phong Lan) đa số là chị em có chồng đi
học tập cải tạo (đi tù) và những học sinh hay sinh viên học hành dang dỡ và có lý lịch
không tốt nên không tìm được việc làm ngon (ngôn ngữ thực dụng). Trong Hợp Tác
Xã cũng có thành phần theo “cách mạng”, có lập trường “vững vàng” và “trung thành
với đảng và nhà nước”, tuy nhiên đa số cũng có đôi chút chữ nghĩa nên dù sao cũng
đỡ hơn thành phần tạp nham ở phường ấp. Sau này nghĩ lại thời kỳ đi thêu tôi mới thấy:
không xã hội nào bóc lột sức lao động bằng Xã Hội Chủ Nghĩa. Mỗi ngày làm 9, 10 tiếng,
mỗi tuần làm 6 ngày, thêu hàng xuất khẩu muốn đui hai con mắt, tiền lương tháng độ
50 hay 60 đồng không đủ để mỗi ngày uống một ly sữa đậu nành (sữa đậu nành lúc ấy
2 đồng một ly) và tôi không hiểu sao tôi có thể sống sót được trong cái môi trường eo
hẹp, thiếu thốn đó cho đến được ngày hôm nay. Phải công nhận rằng quả thật con người
có một sức chịu đựng vô cùng phi thường.
Rồi phòng Công Thương Nghiệp đưa chỉ thị xuống cho các tổ hợp và hợp tác xã phải thi đua công tác Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa và hợp tác xã tôi phải góp
tiền mua dây khoai lang, đọt khoai mì để đi khai đất trồng trọt (đúng là nghèo mà gặp cái eo). Vùng trồng trọt hoa màu khá xa thành phố, chúng tôi phải đi
qua Hồ Xuân Hương, xuống gần thác Prenn rồi rẽ vào phía trong núi Voi, nơi đó có những cánh đồng tranh hoang vu, đất khô như đá đang chờ những cánh
tay yếu ớt của chúng tôi để biến thành những vùng hoa màu tươi tốt!!! Khoai sắn đó là của tất cả chúng tôi, ăn không hết thì đem bán hay đổi thực phẩm
khác và những đợt thi đua lao động đó đã biến chúng tôi thành những con ngươì tốt đẹp của xã hội mới..Vân vân và vân vân … Bao nhiêu là danh từ hoa mỹ,
bao nhiêu là ý kiến, bao nhiêu là góp ý, rồi tập hợp đọc diễn văn, giăng biểu
ngữ, rồi hoan hô vang dậy trời đất: nhất trí! nhất trí! Và cuối cùng là kéo nhau đi vào trong chân núi để trồng khoai, trồng sắn cho lũ heo rừng phá (ba tôi nói
trước như vậy, vì trồng trọt mà không có ai trông nom thì làm sao mà thu hoạch được) tuy nhiên điều đó chẳng nên bận tâm, miễn sao có bằng cớ báo lên
cấp trên là được rồi, rồi cấp trên sẽ báo cho cấp trên nữa. Kết luận hợp tác xã Phong Lan ngoài việc thi đua làm hàng xuất khẩu còn tranh thủ trồng hoa mầu
để cải tổ đời sống thêm no ấm.
Một đám đàn bà con gái vừa đi vừa nói chuyện in ỏi trang bị nón lá, giày bata quần vải ú đen, cuốc thuổng và gô đựng cơm trưa đi qua phố Hòa Bình làm cho
mọi người đứng lại ngơ ngác nhìn. Trông chẳng giống ai. Vài ba câu chửi bới vu vơ, vài ba lời chọc ghẹo mĩa mai cái trò hề của bọn muốn lập công nên vẽ
chuyện hành người. Nếu dùng hai hai tiếng “lao động” thì ngồi trước khung thêu cũng là lao động rồi, đâu cần phải vát cày, vát cuốc đi vào rừng vào rẩy mới
là lao động thật sự. Ở đời có người làm việc nọ, kẻ làm việc kia chứ. Tuy nhiên nếu lúc đó có ai đưa ra ý kiến thì sẽ bị kết tội là phản động, đi ngược lại chính
sách của đảng đề ra. Cho nên mọi người chỉ còn có cách là im lặng cho đời sống dễ dàng hơn.
Khi xuống hết dốc Prenn rẽ vào con đường đất đỏ đi vào rừng thì đám đông thưa dần, bởi vì kẻ đi trước người đi sau không còn hàng ngũ gì nữa. Tôi đi với
Hương người bạn gái nhỏ hơn tôi nhiều tuổi, Hương đang học trung học thì miền Nam mất vào tay cộng sản, tuy gia đình không dính dáng đến chế độ cũ
nhiều nhưng Hương chán nản bỏ học đi làm thợ thêu. Nhà ở gần nhau  nên sáng hôm đó Hương lên rủ tôi cùng đi. Chúng tôi đi hơi chậm cho nên khi vào sâu
trong rừng thông thì ngó trước nhìn sau chỉ còn hai chị em vừa đi vừa trò chuyện. Buổi sáng trong rừng thật là tuyệt vời không khí trong lành, mát dịu thoảng
thoảng hương thơm của lá thông và những loài hoa dại không tên, gió thổi nhè nhẹ trên những ngọn cây, lá cỏ và nắng buổi sáng óng ả chan hoà trên vạn vật.
Ai đã từng ở Ðalat, đã từng đi dạo trong những buổi sáng nắng ấm, từng đắm mình trong cái không gian vàng óng như tơ … trong bầu không khí mát lạnh
hiền hòa của vùng cao nguyên và bên tai là tiếng rì rào bất tận của ngàn thông trong gió sớm mới cảm nhận được cái đẹp tuyệt hảo cuả thành phố du lịch này.
Tôi và Hương trong giây phút như tạm quên đi nỗi đày đọa, nỗi đau đớn của đời sống hiện tại. Rừng thông bao la tắm mình trong nắng lụa tôi ngữa mặt lên
thở thật sâu cái không khí trong lạnh của rừng núi và hạnh phúc bất chợt đến trong phút giây không hẹn:
- Buổi sáng đẹp quá chị Phương hả?
- Thật là tuyệt vời, hai đứa mình cứ tà tà rồi đến đâu hay đó hơi sức nào mà vội vàng, dễ gì hưởng được một buổi sáng đẹp như hôm nay phải không Hương?  
Hương gật đầu tán thành:
- Có lẽ em và chị là hai kẻ đi sau cùng đó.
- Ðường nào cũng đến La Mã, lo gì.
- Ðường nào cũng đến “lao động là vinh quang “chứ.
Tôi và Hương cười thật to, tiếng cườì thật thoãi mái, tự do vì xung quanh chúng tôi chẳng có ai cả. Chúng tôi tiếp tục oang oang chuyện trên trời dưới đất,
chân bước lời ra nên chẳng thấy mệt mỏi chi cả. Ðến một khúc quanh con đường đất đỏ bỗng mở rộng ra và bên ven đường ngỗn ngang những thân cây to
nằm la liệt. Có lẽ người ta hạ cây mà chưa kịp chuyên chở đi, mặt đất có nhiều nơi còn hằn dấu xe be(một loại xe chuyên chở cây gỗ). Đang vui câu chuyện
cùng Hương tôi bỗng nghe có tiếng nói chuyện ồn ào cuả một đám đông sau lưng, không quay lại tôi cũng đoán họ rất là đông chắc phải trên mười người hay
nhiều hơn nữa. Không ai bảo ai tôi và Hương đều hạ giọng thấp và nhỏ lại. Ðám đông càng lúc càng đến gần chúng tôi, họ toàn là đàn ông vì tôi không nghe
giọng nữ. Chắc là một tổ hợp tác nào cũng đi lao động như tổ thêu chứ gì. Họ trò chuyện và bàn cãi ầm ĩ, tôi và Hương cố gắng đi thật mau nhưng đàn bà
con gái dể gì đi mau bằng đàn ông con trai, khi đến gần chúng tôi vài người trong số họ buông vài lời trêu ghẹo bâng quơ. Tôi không dám quay lại vì dù là đã
có chồng, có con nhưng cũng không tránh khỏi sự mắc cở với những người khác phái, nhất là họ rất là đông nữa. Con đường đất đỏ đưa sâu dần về phía
chân núi trước mặt và đoàn người phía sau vẫn nối gót chúng tôi thật là lâu, họ vẫn không ngớt bàn cãi về những câu chuyện nào đó, có lúc cười đùa vang
trời rồi lại có lúc giận dữ la lối om sòm.Tôi nghĩ rằng họ đều rất là trẻ.
Khi đám đông phía sau đến rất là gần chúng tôi, gần đến độ tôi có cảm tưởng rằng chân họ sắp dẫm vào gót chân tôi thì không hẹn trước tôi và Hương cùng
dừng lại và đứng qua một bên để nhường lối cho họ qua. Tôi cũng tò mò muốn biết họ thuộc tổ hợp nào, già trẻ như thế nào mà ồn ào dữ vậy. Nhưng thật là
bất ngờ ngoài sức tưởng tượng của tôi -và của Hương nữa-phía sau chúng tôi chẳng có ai cả, chỉ có con đường đỏ quạch trống vắng giữa khu rừng xạc xào
tiếng gió. Tôi và Hương thảng thốt nhìn nhau, khuôn mặt Hương trở nên trắng bệch, hai còn mắt thất thần hoảng hốt vì sợ hải, đôi môi giựt giựt một cách kỳ
lạ. Còn tôi thì nổi gai ốc khắp người, tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dài xuống xương sống. Chúng tôi nắm chặt tay nhau, một sự im lặng đột ngột bao
trùm xung quanh hai đứa. Tiếng trò chuyện nãy giờ vẫn theo gót chúng tôi đã im bặt.      Thế nghĩa là sao. Giọng Hương run run:
- Họ đông lắm mà …Họ đâu cả rồi …
   Tôi ú ớ:
- Không biết nữa, chị nghe họ gần sát chân mình nên tránh ra cho họ vượt lên.
- Em cũng vậy …Họ còn chọc ghẹo tụi mình nữa chị có nghe không?
Tiếng tôi bỗng như tắt nghẹn lại:
- Dĩ nhiên là có nghe như Hương vậy …Có một người nói giọng Huế, không phải Huế đặc mà Huế pha Nam.
Hương tiếp lời:
- Em nghe giọng Bắc nữa …có tiếng ngươì Nam càu nhàu điều gì đó.
- Họ sau lưng tụi mình rất là lâu nên chị không nghĩ là mình giàu tưởng tưởng đâu!
- Tưởng tưởng sao được, chuyện rành rành ra đó đâu phải một mình em hay chị nghe, cả hai chúng ta mà.    
Ðột nhiên hai đứa cùng thốt lên:
- Vậy là đúng rồi, họ là …ma…chứ là gì nữa …
- Mà sao lại …ban ngày nhỉ!  Hai chúng tôi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng và thỉnh thoảng nhìn lại phía sau xem họ có đuổi theo không. Chẳng còn ai nữa
cả, cho đến khi tôi và Hương đến tụ điểm thì đã có đông đủ mọi
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Cung Chúc Tân Xuân
Tạp Chí