Tư Mã Thiên

Nhị thập tứ sử
1  Sử ký         Tư Mã Thiên
2  Hán thư         Ban Cố
3  Hậu Hán thư         Phạm Diệp
4 Tam quốc chí         Trần Thọ
5 Tấn thư         Phòng Huyền Linh (chủ biên)
6 Tống thư         Thẩm Ước
7  Nam Tề thư         Tiêu Tử Hiển
8  Lương thư         Diêu Tư Liêm
9  Trần thư         Diêu Tư Liêm
10   Ngụy thư         Ngụy Thâu
11   Bắc Tề thư         Lý Bách Dược
12   Chu thư         Lệnh Hồ Đức Phân (chủ biên)
13   Tùy thư         Ngụy Trưng (chủ biên)
14   Nam sử         Lý Diên Thọ
15   Bắc sử         Lý Diên Thọ
16   Cựu Đường thư         Lưu Hu (chủ biên)
17   Tân Đường thư         Âu Dương Tu và Tống Kỳ
18   Cựu Ngũ Đại sử         Tiết Cư Chính (chủ biên)
19   Tân Ngũ Đại sử         Âu Dương Tu (chủ biên)
20   Tống sử         Thoát Thoát (chủ biên)
21   Liêu sử         Thoát Thoát (chủ biên)
22   Kim sử         Thoát Thoát (chủ biên)
23   Nguyên sử         Tống Liêm (chủ biên)
24   Minh sử         Trương Đình Ngọc (chủ biên)
-         Tân Nguyên sử         Kha Thiệu Văn (chủ biên)
-         Thanh sử cảo         Triệu Nhĩ Tốn (chủ biên)

Tư Mã Thiên (145 TCN hay 135 TCN? – 90 TCN?), tên tự là Tử Trường, là tác giả bộ Sử ký ; với bộ sử đó, ông được coi là cha đẻ của sử học
Trung Hoa.
Ông làm chức Thái sử lệnh rồi Trung thư lệnh, đời nhà Hán. Sử ký là một bộ sử vĩ đại miêu tả tổng quát về lịch sử Trung Quốc bao trùm 2.000
năm từ Hoàng Đế đến đời Hán Vũ Đế. Công trình này là nền tảng cho các phát triển sau này trong sử học Trung Hoa.
Mục lục

* 1 Tiểu sử
* 2 Cống hiến
     o 2.1 Trong sử học
     o 2.2 Trong văn học
     o 2.3 Trong thiên văn học
* 3 Trích dẫn tiêu biểu
* 4 Tham khảo
* 5 Xem thêm
* 6 Liên kết ngoài

Tiểu sử
Tư Mã Thiên, sinh ở Long Môn (nay là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc), chưa biết chắc năm nào. Có tài liệu cho là năm 163 TCN,
nhưng đa số các học giả cho rằng vào khoảng năm 145 TCN thì đúng hơn. Ông sống thời thơ ấu ở Long Môn, trong một gia đình có truyền thống
làm sử. Hai chữ Tư Mã có từ đời nhà Chu và dùng để gọi một chức quan võ coi tất cả các việc binh trong nước, tức là chức Binh bộ Thượng thư
đời sau. Đời Chu Tuyên Vương (827 TCN-782 TCN) một người giữ chức đó, có công, được vua cho phép lấy chức làm tên họ. Sau đó họ Tư Mã
có vài người làm sử quan ở triều Chu. Thời Chiến Quốc, nước Tần có tướng giỏi là Tư Mã Thác  thời Tần Huệ Vương, đã cùng Trương Nghi đánh
bại Thục, giết chết vị vua Khai Minh cuối cùng, truất Thục vương đổi hiệu làm hầu). Cha của Tư Mã Thiên là Tư Mã Đàm, cháu tám đời của Tư
Mã Thác. Từ nhỏ, Tư Mã Thiên đã được học nhiều sách văn học và sử học thời đó, như Tả truyện, Quốc ngữ, Thế bản... Ông từng là học trò của
một số nhà Nho học như Khổng An Quốcvà Đổng Trọng Thư.
Năm 20 tuổi, nhờ sự hỗ trợ của cha, Tư Mã Thiên đã bắt đầu chuyến du hành vòng quanh đất nước, thu thập các tài liệu và bằng chứng lịch sử.
Mục đích của chuyến đi là để kiểm chứng các lời đồn đại và truyền thuyết và để thăm viếng các di tích lịch sử, như mộ Đại Vũ. Ông đã đi qua Sơn
Đông, Vân Nam, Hà Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Giang Tây, Hồ Nam...
Sau chuyến đi trở về, ông được chọn làm Lang trung  trong chính quyền, với nhiệm vụ đi kiểm tra từng địa phương cùng Hán Vũ Đế (vào khoảng
từ 122 TCN đến 116 TCN). Sau ông được phụng sứ đi thanh tra các miền Ba Thục, Cung, Tạc, Côn Minh tức những miền mà nhà Hán mới chinh
phục được ở phía tây nam. Phía bắc ông lên tới Vạn Lý Trường Thành và Sóc Phương. Năm 110 TCN, sau cuộc tuần du, cha ông lâm bệnh và gọi
Tư Mã Thiên về để nối nghiệp. Tư Mã Đàm có ước nguyện viết tiếp Xuân Thu Tả Thị Truyện  Kế nghiệp cha, ông nhận chức Thái sử lệnh. Chức
đó vừa giữ việc chép sử vừa coi về thiên văn, làm lịch, nhưng là một chức nhỏ, bị coi thường. Năm 104 TCN, ông cùng một vài người nữa, sửa lại
lịch. Ông thu thập hết tài liệu trong các sách của thư viện triều đình.
Năm 99 TCN, ông bị vướng vào vụ Lý Lăng . Lý Quảng Lợi  và Lý Lăng, hai quan võ, đã không hoàn thành nhiệm vụ trong một cuộc chiến với
Hung Nô ở miền Bắc. Hán Vũ Đế và đa số các quan trong triều cho rằng tội trạng thuộc về Lý Lăng. Chỉ mình Tư Mã Thiên bênh vực vị tướng
này. Hán Vũ Đế cho rằng Tư Mã Thiên, qua việc bảo vệ Lý Lăng, đã ngầm chê Lý Quảng Lợi, anh vợ của Vũ Đế, là nhút nhát. Tư Mã Thiên bị tội
tử hình, nếu không chuộc bằng tiền bạc hoặc bị cung hình (thiến). Do không đủ tiền chuộc, ông đành chọn bị thiến và bị cầm tù.
Sau khi ra tù, Tư Mã Thiên được làm Trung thư lệnh, đây là chức quan to, ở gần vua, được ra vào cung cấm, xem các tài liệu mật, chức này chỉ
dành cho hoạn quan. Thỉnh thoảng ông được đi theo vua trong các cuộc tuần du. Không được giữ chức Thái sử nữa, lại luôn cảm thấy nhục nhã vì
hình phạt, ông dồn tất cả tâm sức cho bộ Sử ký và hoàn thành nó năm 97 TCN (có sách nói là năm 91 TCN, lúc ông trên 55 tuổi).
Không ai để ý tới ông cả và ông mất năm nào cũng không biết rõ, chỉ đoán được phỏng chừng vào năm 90 TCN.
Một số cách viết tên Tư Mã Thiên
 
 Trong sử học
Xem thêm Sử ký
Quyển Sử ký được Tư Mã Thiên viết hoàn toàn do niềm đam mê lịch sử, một truyền thống của gia đình, chứ không nhằm mục đích đạt danh tiếng.
Nó được lưu giữ, ít người biết, cho đến thời cháu ngoại của ông là Dương Vận (Dương Uẩn?), thì mới được công bố gọi là Thái Sử Công Thư Chí.
Tên Sử ký là tên đặt sau này.
Nó đã xây dựng một phong cách viết sử mà sau này trở thành "khuôn mẫu chính thức" cho tài liệu lịch sử Trung Hoa. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên
trình bày các sự kiện theo chuỗi kèm theo chú giải, nguồn tham khảo. Công trình này gồm 526.500 chữ, 130 thiên; không theo trình tự thời gian,
mà theo 5 chủ đề, bao gồm bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện; viết về nhiều lĩnh vực của xã hội gồm âm nhạc, lễ hội, lịch, tín ngưỡng, kinh tế;
kèm theo một nguồn tham khảo lớn. Trước ông, lịch sử được viết dành cho triều đình. Phong cách viết sử mở rộng cho nhiều mặt của xã hội trong
Sử ký sau này ảnh hưởng đến Trịnh Tiều (- Zhèngqiáo) khi viết Thông sử ( - Tongshi) hay Tư Mã Quang ( - Sima Guang) khi viết Tư trì thông
giám  Zizhi Tongjian). Phong cách này còn ảnh hưởng đến cách viết sử của các nước láng giềng, như Triều Tiên.
[sửa] Trong văn học
Sử ký của Tư Mã Thiên cũng đã được coi như hình mẫu cho văn học miêu tả chân dung nhân vật và sự kiện tại Trung Hoa. Nó được các nhà phê
bình coi là có "trình độ miêu tả điêu luyện" (như phương pháp đàm thoại khiến các miêu tả thêm sống động), "phong cách sáng tạo" (ngôn ngữ bình
dân, dí dỏm và phong phú, như tác phẩm thơ không vần), "súc tích" (cách viết chỉ miêu tả những điểm cốt yếu, ngắn gọn dễ hiểu)...
Phong cách viết trong Sử ký có ảnh hưởng trong phong cách văn học Trung Hoa thời kỳ nhà Đường, nhà Tống và những tác phẩm truyện võ hiệp
sau này. Ngoài Sử ký, Tư Mã Thiên còn viết 8 bài thơ trào phúng (賦), trong số đó có bài nói về sự chịu đựng của ông trong vụ Lý Lăng và bài nói
về niềm đam mê viết Sử ký.
Trong thiên văn học
Tư Mã Đàm và Tư Mã Thiên, đều là các nhà chiêm tinh của triều đình nhà Hán. Đây là chức vụ quan trọng, có nhiệm vụ giải nghĩa và tiên đoán
các việc triều chính trong sự hài hòa với chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao, cùng các hiện tượng tự nhiên khác như nhật thực,
động đất,...
Năm 104 TCN, trước khi viết Sử ký, Tư Mã Thiên cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại và đồng nghiệp khác sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch. Lịch này
có độ chính xác cao nhất vào thời đó, xác định một năm có 365,25 ngày và một tháng có 29,53 ngày. Đây được coi là một cuộc cách mạng trong
lịch sử làm lịch của Trung Hoa. Âm lịch ngày nay cũng dựa trên công trình này.
[sửa] Trích dẫn tiêu biểu
* "Cửu ngưu nhất mao" (Chín trâu, một lông) - Tư Mã Thiên viết trong sách "Báo Nhiệm Thiếu Khanh ": "Giả lệnh bộc phục pháp thụ tru, nhược
cửu ngưu vong nhất mao, dữ lâu nghĩ hà dĩ dị = Giả thiết ra lệnh tôi nép trước pháp luật và chịu chết, chỉ như lấy một lông trong lông của chín con
châu, có gì khác với giết một con sâu ?
Tham khảo

Sử ký của Tư Mã Thiên là một tác phẩm đồ sộ, vì thế một số bản dịch ra Việt ngữ chỉ có thể chọn lọc những phần chính yếu mà người dịch cho
rằng người đọc Việt quan tâm nhất. Chưa có bản dịch toàn văn bộ Sử ký của Tư Mã Thiên.
Tiếng Việt:

* Sử ký Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb Văn học.
* Sử ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch, Nxb Văn học.
* Sử ký Tư Mã Thiên, Nhượng Tống dịch, Nxb Tân Việt,Hà Nội 1944.
Tiếng Anh:

* Watson, Burton (1958). Ssu-ma Ch'ien: Grand Historian of China. New York: Columbia University Press.
* Qian, Sima and trans. Watson, Burton (1993),Records of the Grand Historian: Han Dynasty. Research Center for Translation, The Chinese
University of Hong Kong and Columbia University Press.
* Durrant, Stephen W.(1995), The cloudy mirror : tension and conflict in the writings of Sima Qian. Albany : State University of New York Press.
* Hardy, Grant Ricardo (1988), Objectivity and Interpretation in the "Shi Chi". Yale University.
* Watson, Burton (1958). Ssu-ma Ch'ien: Grand Historian of China. New York: Columbia University Press.
Tạp Chí
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com
Or:     hiepnguyen930@yahoo.com
Cell:   678-770-1497
Tranh vẽ Tư Mã Thiên