Trận Iwo Jima p1

Một phần của Thế chiến thứ hai,
Chiến tranh Thái Bình Dương


Thủy quân lục chiến Mỹ cắm cờ chiến thắng trên đỉnh Suribachi
("Raising the Flag on Iwo Jima").
.Thời gian        19 tháng 2 – 26 tháng 3, 1945
Địa điểm        Iwo Jima, Nhật Bản
Kết quả        Mỹ chiến thắng
Tham chiến
Mỹ
Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Holland Smith
Kuribayashi Tadamichi
Soemu Toyoda
Lực lượng
110.000        22.000
Thương vong
6.821 người chết[1]
19.189 người bị thương        20.703 người chết[1]
1.083 người bị bắt[2]
.Trận Iwo Jima (19 tháng 2 – 26 tháng 3 năm 1945) là trận đánh thuộc mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai giữa Mỹ và Đế quốc
Nhật Bản tại đảo Iwo Jima. Đây là một trong những trận đánh ác liệt nhất của chiến trường Thái Bình Dương và kết quả sau một tháng giao tranh,
quân Mỹ đã chiếm được Iwo Jima với thương vong khủng khiếp của cả hai bên tham chiến. Cũng từ đây, người Mỹ đã biến hòn đảo thành một căn
cứ không quân để tấn công các trung tâm công nghiệp trọng điểm trên lãnh thổ Nhật Bản bằng các máy bay ném bom hạng trung có khu trục cơ
yểm trợ.[3]Iwo Jima cũng là trận đánh đầu tiên của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Do đó, quân Mỹ đã phải đối đầu với một hệ thống phòng
ngự dày đặc cùng với các công sự kiên cố, trận địa pháo được ngụy trang, địa đạo dưới mặt đất và sức chống trả ngoan cường của người Nhật dựa
vào các hang động tự nhiên và địa hình núi đá hiểm trở.[4] Núi Suribachi, điểm cao nhất trên hòn đảo và cũng là một vị trí phòng thủ quan trọng, bị
lính thủy đánh bộ đánh chiếm vào ngày 23 tháng 2 và bức ảnh 6 lính thủy đánh bộ cắm cờ trên đỉnh Suribachi với tên gọi "Raising the Flag on Iwo
Jima" đã trở thành biểu tượng cho trận đánh. Tuy nhiên, phải đến ngày 16 tháng 3, hòn đảo mới chính thức được phía Mỹ tuyên bố an toàn.Trận
Iwo Jima cũng đã làm nên tên tuổi của vị tướng người Nhật có nhiệm vụ bảo vệ hòn đảo là đại tướng Kuribayashi Tadamichi. Bối cảnh trận đánh đã
được dựng thành nhiều bộ phim nổi tiếng, trong đó gần đây là hai bộ phim Flags of Our Fathers (Ngọn cờ cha ông) và Letters from Iwo Jima
(Những bức thư từ Iwo Jima) của đạo diễn Clint Eastwood.
Mục lục
[ẩn]
•        1 Vị trí địa lý và vai trò chiến lược của Iwo Jima
•        2 Hoàn cảnh trận đánh
•        3 Kế hoạch và chuẩn bị
o        3.1 Phía Nhật Bản
o        3.2 Phía Hoa Kỳ
•        4 Diễn biến trận đánh
o        4.1 Cuộc đổ bộ của Mỹ
o        4.2 Trận đánh tại núi Suribachi
o        4.3 Trận đánh tại phòng tuyến phía bắc
o        4.4 Những ngày cuối cùng
•        5 Kết quả
•        6 Ý nghĩa chiến lược
•        7 Kỷ niệm
•        8 Trong văn hóa đại chúng
•        9 Xem thêm
•        10 Tham khảo
•        11 Chú thích
•        12 Liên kết ngoài
[sửa] Vị trí địa lý và vai trò chiến lược của Iwo Jima
Vị trí Iwo Jima
Iwo Jima (có nghĩa Đảo Lưu Huỳnh trong tiếng Nhật) là một đảo núi lửa thuộc nhóm quần đảo Núi Lửa của quần đảo Ogasawara, cách Tokyo
khoảng 1.200 km (650 hải lý) về phía nam, cách Guam 1.300 km (702 hải lý) về phía bắc và vị trí của nó nằm giữa Saipan và Tokyo (15° 10′ 51″
N, 145° 45′ 21″ E). Hòn đảo có diện tích xấp xỉ 21 km², dài 9 km, nơi rộng nhất 4 km, phình to ở cao nguyên phía đông bắc và hẹp dần về phía tây
nam. Ở cực Nam của đảo là một ngọn núi lửa đã tắt cao 161 m và được người Nhật đặt tên là Suribachi. Bãi biển có thể cho tàu thuyền đổ bộ dài
hơn 3 km dọc theo bờ biển phía đông. Đảo có một thảm thực vật rất nghèo nàn bởi đất ở đây chủ yếu là đất cát và đất mặn nồng nặc mùi lưu huỳnh.
Quần đảo Núi Lửa được sáp nhập vào Nhật từ năm 1891. Vào năm 1930 có khoảng 1.100 người Nhật đến định cư tại quần đảo và thành lập làng
Motoyama. Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông và trên đảo có một nhà máy ép mía và một nhà máy khai thác lưu huỳnh.[5] Iwo Jima
trở thành một vị trí chiến lược trên Quần đảo Núi lửa vì chỉ có ở đây mới có thể xây dựng các sân bay. Năm 1940, công ty xây dựng Mabuchi xây
hai đường băng dưới chân núi Suribachi. Mùa xuân năm 1941, một trung úy hải quân và 93 lính Nhật đến để xây pháo đài, bố trí đại bác và ngoài ra
còn đưa 2.000 nhân công Triều Tiên lên đảo. Với các sân bay trên đảo, người Nhật biến nơi đây thành một căn cứ cho các máy bay tiêm kích Nhật
nhằm ngăn chặn các máy bay ném bom tầm xa của Mỹ cùng như biến đảo thành một hải cảng cho hải quân Nhật. Do đó nếu người Mỹ chiếm được
Iwo Jima sẽ giải quyết được những vấn đề trên, đồng thời biến đây thành 1 bàn đạp tấn công vào lãnh thổ Nhật Bản. Ngoài ra, các pháo đài bay B-
29 sẽ rút ngắn được khoảng cách trong các cuộc oanh tạc vào Tokyo và các khu trục cơ P-51 Mustang cũng có thể cất cánh từ đảo để yểm trợ.
Ngoài ra một nguyên nhân khác nữa buộc Mỹ phải tấn công Iwo Jima là hệ thống radar của Nhật trên đảo. Nhờ các radar này mà Nhật có khả năng
phát hiện sớm những đợt oanh kích của không quân Mỹ và báo về cho đất liền để không quân Nhật có thời gian chuẩn bị đối phó.[6]
[sửa] Hoàn cảnh trận đánh
Chiến hạm USS New York dùng hải pháo yểm trợ
cho cuộc đổ bộ vào ngày 16 tháng 2 năm 1945
Hạm đội 6 Mỹ trong trận đánh
Đầu năm 1944, sau khi đã đánh tan hai hệ thống phòng thủ ngoài cùng của Nhật tại Thái Bình Dương trên quần đảo Gilbert và quần đảo Marshall,
quân Mỹ tiến chiếm quần đảo Mariana và trọng điểm là đảo Saipan. Ngày 15 tháng 6 năm 1944, trận Saipan bắt đầu. Đến ngày 9 tháng 7 năm 1944,
hòn đảo đã hoàn toàn nằm trong tay người Mỹ. Sau khi chiếm xong Saipan, quân Mỹ đánh chiếm tiếp các đảo Guam và Tinian. Chưa đầy một
tháng, các đảo này đã lọt về tay người Mỹ.Chiếm được quần đảo Mariana, Mỹ đã giành được một thắng lợi chiến lược vô cùng quan trọng. Sau khi
Mỹ chiếm được Saipan, lần lượt Tokyo, nhiều vùng lãnh thổ phía nam Nhật Bản và các căn cứ của Nhật như Đài Loan, Philippines và quần đảo
Caroline đều nằm trong tầm oanh tạc của không quân Mỹ.Trong khi đó, các trận hải chiến ác liệt trên biển Philippines và vịnh Leyte đã khiến cho
hải quân và không quân Nhật tê liệt với những tổn thất không thể bù đắp. Trong trận hải chiến biển Philippine, hạm đội liên hợp Nhật bị mất 92% số
máy bay và 3 hàng không mẫu hạm bị đánh chìm. Đến trận Hải chiến vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944, Nhật mất thêm 4 hàng không mẫu hạm và
3 thiết giáp hạm. Do đó, khi quân Mỹ tiến hành đổ bộ vào Iwo Jima, không một chiến hạm nào của Nhật được gửi đến để tham chiến. Trong khi
đó, không quân Nhật cũng không khá gì hơn khi mà những tổn thất to lớn trong năm 1944 cộng với các đợt không kích của Mỹ nhắm vào các nhà
máy sản xuất máy bay nên tính đến tháng 3 hay tháng 4 năm 1945, tổng số máy bay của không quân Nhật không đến 3.000 chiếc. Hơn nữa, những
máy bay này có tầm hoạt động chưa đến 900 km (559 dặm) nên không thể bay từ Nhật đến để bảo vệ đảo Iwo Jima. Người Nhật ưu tiên sử dụng
các máy bay này cho việc bảo vệ Đài Loan và các đảo lân cận gần Nhật Bản.[7]Thoạt đầu, các nhà chiến lược ở Washington cũng như đô đốc
Nimitz ở Hawaii cho rằng sau Philippines, quân Mỹ sẽ đổ bộ lên Đài Loan. Nhưng mấy tuần trước cuộc đổ bộ ở Leyte, được nghe chuẩn đô đốc
Raymond Spruance trình bày thì người Mỹ thay đổi kế hoạch: bỏ qua Đài Loan, đánh thẳng vào các đảo cực Nam lãnh thổ Nhật Bản: Iwo Jima,
Okinawa...[8]Theo các thông tin tình báo mà Mỹ nhận được, họ cho rằng có thể đánh chiếm Iwo Jima trong vòng 5 ngày. Tuy nhiên họ đã quá lạc
quan khi không tính đến hệ thống bố phòng vững chắc của quân Nhật trên đảo và những kinh nghiệm mà người Nhật đã rút ra từ các trận đánh
trước. Một yếu tố khác càng làm tăng sự chủ quan của người Mỹ là trong hơn 2 tháng kể từ ngày 10 tháng 12 năm 1944, các máy bay ném bom B-
24 và B-29 của Mỹ xuất phát từ quần đảo Marianas đã tiến hành 75 trận oanh tạc tại Iwo Jima, trút xuống hòn đảo hàng trăm tấn bom hòng bẻ gãy
hệ thống phòng thủ tại đây. Đến ngày 15 tháng 2 năm 1945, các chiến hạm Mỹ có nhiệm vụ yểm trợ đổ bộ đã bắn phá dữ dội hòn đảo với 21.926
quả đạn pháo. Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm số 58 của Mỹ do Phó Đô đốc Marc A. Mitscher chỉ huy còn tiến hành các cuộc
oanh kích vào các căn cứ không quân và khu công nghiệp trọng yếu tại Tokyo trong hai ngày 16 và 17 tháng 2 trước khi quay về yểm trợ cho cuộc
đổ bộ lên Iwo Jima. Tuy nhiên trong thực tế, khi cuộc đổ bộ bắt đầu, quân trú phòng Nhật hầu như không bị tổn thất nhiều vì núp sâu trong các
hang động, ngoại trừ các ụ súng bố phòng dọc theo bờ biển bị tiêu diệt. Hơn nữa, cuộc bắn phá của hải quân Mỹ chỉ diễn ra trong 3 ngày thay vì 10
ngày như được yêu cầu ban đầu từ tướng Holland Smith.[9] Cuộc đổ bộ được mang tên chiến dịch Detachment và ngày đổ bộ được ấn định là ngày
19 tháng 2 năm 1945. Vào ngày D-2, pháo binh Nhật đã nã đạn vào các tàu đổ bộ của lực lượng trinh sát Mỹ khiến cho vị trí của họ bị bại lộ trước
hỏa pháo của Mỹ.[10] Ngày 18 tháng 2, ngày D-1, chiến hạm USS Blessman bị một quả bom 500-pound đánh trúng phòng ăn tập thể giết chết 40
người, trong đó có 15 người thuộc lực lượng trinh sát.[11]
Kế hoạch và chuẩn bị
Phía Nhật Bản
Thất bại trong việc bảo vệ quần đảo Mariana trong mùa hè năm 1944 đã khiến cho người Nhật càng nhận ra tầm quan trọng của đảo Ogasawaras.
Một nguyên nhân khác, Iwo Jima, trong con mắt người Nhật có giá trị hơn các đảo Tarawa, Guam, Tinian hay Saipan vì Iwo Jima là một phần của
lãnh thổ đế quốc Nhật Bản từ lâu đời.[12]
Sau khi quân Mỹ chiếm được quần đảo Marshall qua các trận Kwajalein và trận Eniwetok vào tháng 2 năm 1944 thì cả lục quân và hải quân Nhật
đều tăng cường quân tiếp viện đến đảo Iwo Jima. Trung tá Tsunezo Wachi đưa 5.000 lính hải quân lên đảo để bắt đầu xây dựng sân bay thứ 2 ở
trung tâm đảo rồi sân bay thứ ba trên cao nguyên phía bắc. 500 quân từ căn cứ hải quân tại Yokosuka và thêm 500 nữa từ Chichi Jima đến Iwo
Jima vào tháng 3 và tháng 4 năm 1944. Với sự tăng viện từ Chichi Jima và Nhật, quân đồn trú tại Iwo Jima đã đạt đến con số hơn 5.000 người,
được trang bị 13 khẩu pháo, 200 súng máy hạng nặng và nhẹ, 4.552 khẩu súng trường. Ngoài ra còn có một số lượng lớn pháo 120mm được bố trí
dọc theo bờ biển, 12 khẩu pháo phòng không hạng nặng, 30 pháo phòng không hai nòng loại 25mm.[13]Tháng 6 năm 1944, Trung tướng
Kuribayashi Tadamichi được thủ tướng Tōjō Hideki cử đến Iwo Jima cùng với sư đoàn bộ binh số 109 gồm 7.350 người và ông được bổ nhiệm làm
tổng tư lệnh lực lượng trên đảo. Tiếp theo sau đó, 2.216 lính hải quân cùng chuẩn đô đốc Toshinosuka Ichimaru được phái đến để tăng cường cho
đảo, đưa tổng số quân ở đây lên đến con số 21.000 người, bao gồm 14.000 lính bộ binh và 7.000 lính hải quân. Đảo có nhiều lương thực dự trữ
nhưng thiếu nước ngọt.[14] Những người cuối cùng đến đảo là các đơn vị pháo binh và 5 tiểu đoàn chống tăng. Tuy nhiên, nhiều tàu chở hàng tiếp
tế cho Iwo Jima trên đường đi đã bị tàu ngầm và máy bay Mỹ đánh chìm; như vào ngày 18 tháng 7 năm 1944, tàu ngầm Mỹ USS Cobia đã đánh
chìm tàu Nisshu Maru, lúc đó đang đưa một trung đoàn tăng từ Nhật đến Iwo, ở khoảng 180 dặm phía tây bắc Chichi: hầu hết lính Nhật được cứu
sống nhưng bù lại quân Nhật mất 28 xe tăng. Trong vòng sáu tháng, phía Nhật mất khoảng 1.500 người trong hành trình đến Iwo
Chân dung Kuribayashi Tadamichi trong quân phục Đại tướng Lục quân
So với các chỉ huy khác của Nhật, Kuribayashi có một quan niệm phòng
thủ khác. Lấy cảm hứng từ trận Peleliu và thời gian học tập tại Mỹ, ông
đề nghị thay vì thiết lập một hệ thống phòng thủ ngoài bãi biển dễ bị hải
pháo Mỹ vô hiệu hóa thì nên thiết lập hệ thống phòng thủ chiều sâu với
nhiều hang động trong núi, hệ thống địa đạo để tiện đánh du kích. Các vị
trí súng máy hạng nặng, súng cối, pháo phòng không, pháo bảo vệ bờ biển
và đặc biệt là những chiếc xe tăng Chi-Ha kiểu 97 và Ha-Go kiểu 95 của đại t
á nam tước Takeichi Nishi đều được ngụy trang cẩn thận. Pháo phòng
không được che giấu giữa nhửng tảng đá dọc triền núi còn xe tăng nằm
chờ phía sau những bức tường đá dày 2 mét với nòng súng chĩa ra
Tạp Chí
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương