Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!
Cung Chúc Tân Xuân
Tạp Chí

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Được phổ biến đến Độc Giả qua mọi miền đất nước:
Hoa Kỳ - Pháp - Úc - Canada - Việt Nam …
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com
Or:     hiepnguyen930@yahoo.com
Cell:   678-770-1497
Missouri ngày vui chóng qua.
                                                                                                                           Ông Bút
Thuở xưa cái điện thoại có mười lỗ thủng, mỗi lỗ chứa một con số từ 0 tới 9, được như vậy kể cũng mừng lắm rồi, có đâu
như ngày nay điện thoại bé tí ti mà chứa đựng không biết bao nhiêu bộ phận, bao nhiêu thì bao tôi chỉ thuộc lòng duy nhất
một việc: Ghi tên và số phone người thân, nhờ đó từ số, tên có sẵn. Một chiều cuối đông, năm kia Hưng, bạn học Trần Quý
Cáp từ Cali gọi qua, chuông vừa reng một hồi, búng cái tách tôi hỏi: Chi đó mi? Hắn nói: Bút có nhớ bạn Huỳnh Văn Cát
không?
Nhớ sao không, cả trường có một lớp C chừng bốn chục mạng nhiều nhăng chi,
Hưng tiếp: Cát bây giờ…
Ấy khoan đã, mi hỏi thì phải cho ta nói đầy đủ về người bạn kia chứ, nếu không Hưng bảo mình nói dừa chớ nhớ gì?!
Khổ qúa xa quê biết bao lâu rồi, đi tứ xứ mi vẫn kè kè hủ mắm cái.
Chớ sao, mắm cái là quốc hồn, quốc túy của ta mà,
Cát - theo ta nhớ hắn có mái tóc hơi quăn, sợi nhỏ rí, mặt đen đen giống như lai…Miên, lúc nào cũng cười cười, tên hồi học
Trần Quý Cáp của nó là Huỳnh Anh Cát, không phải văn vẽ gì.
- Bút mi nói rất đúng, sau lên đại học Cát đổi chữ lót và xác nhận mi nhớ về bạn bè rất giỏi, dù rời trường rất sớm.
Tôi “khiêm nhường”: Giỏi gì đâu ta có trái tim cho trường, cho phố Hội và bạn bè, rứa thôi.
Này bây giờ cho Bút tin mừng: Cát có đứa con trai đầu lòng được du học ở Washington DC tên nó là Huỳnh Phương Đông
điện thoại số …..Bút ghi vào, thỉnh thoảng thăm và nhắc nhở, khuyến khích nó học. Được thôi khi nào gặp Cát qua phone
Hưng cho mình nhắn lời thăm và chúc mừng, hai vợ chống Cát giáo viên khó nghèo, có con du học, tất là học phải cừ khôi
lắm, gọi thăm thì được, khuyến khích học hành mi nhờ thằng khác! Sao vậy? Hưng hỏi, có gì đâu ta học dốt bỏ xừ khuyến
ai, rủ nó nhậu, uống cà phê thì được. Chán mi qúa, cúp máy thăm bà xã, mấy cháu nghe.
Từ đó tôi quen Đông qua phone, cháu nói chuyện từ tốn, thường kể hoàn cảnh hồi nhỏ cam khổ, tôi nghe sa đà tới vài giờ
không chán. Học trò xứ Quảng kể từ khi vượt đèo Aỉ ra đất Thần Kinh ứng thí đã nghèo rồi, lạ chi. Song mỗi cảnh nghèo
đều có sắc màu riêng trong mỗi trò, từng gia đình, Đông kể:
“Chú biết không, hồi lên lớp 6, lớp 7 con đã làm việc nhà rồi, ba mẹ con đấu thầu được một hố bom B52 bự lắm, trồng rau
muống, cứ sáng sớm chừng ba giờ con với mẹ con thắp đèn bão ra ao cắt rau đem bán dọc đường, khi cắt rau bó thành lọn
xong xuôi, mẹ con về ru em và chuẩn bị cơm nước cho cả nhà, phần con khi gánh rau bán rong dọc đường mặt trời chưa
hừng đông còn phần ít, ra chợ bán tiếp. Khi mặt trời ló dạng một sào phải lo về cho ba mẹ đi dạy, hằng ngày con làm những
việc sau đây:
Giữ em, xắt rau nấu cám heo, học bài, cho heo ăn, gặp heo đẻ canh heo con bú. Thưa chú làm chừng đó công việc mà phải
học bài nữa, khó nhất lúc em khóc, học bài không cách chi thuộc, con nghĩ ra cái kế tất cả bài học con phổ ra nhạc cải
luơng. Một điệu nhạc mùi, rất du dương em bé ngũ rất say, mà bài thuộc thật mau lại khó quên. Nhờ đó thời sinh viên vào
Sài Gòn học, con thi thử giọng ca cải lương, con sém đứng nhứt chú ơi! À chú ơi rau ba bó năm trăm, mấy bà đi chợ thấy
con nít họ thương không trả giá, nên bán khá nhanh, mà có trả giá con cũng nhất định không bán”
mình đây cũng nghèo, nghe nó khổ mà thương quặn lòng.
Từ đó tôi thường liên lạc với Cát, gặp lại những bạn xưa Trần Quý Cáp, lớp chúng tôi thường học dãy chuồng gà, ngồi ngó lên bảng đen tay trái là nhà máy
đèn buổi chiều nghe tiếng u u của nhà máy buồn ngũ không chịu được, khi nào thầy cô gọi lên bảng thì cơn buồn ngủ mới tiêu tan,
Ngày ấy anh em tụi tôi dân huyện lỵ gặp nhau ở Trần Quý Cáp - Hội An tối đa 3 năm các lớp  10, 11, 12, trừ nữ sinh thi hỏng còn nấn ná ngồi lại, nam sinh
thì văng vẳng bài hát “Đây khúc ca vang nơi quân trường đầy hào hùng, 1234 – 1234 đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm 1234…” Riêng tôi rời trường
khi Phan Nhật Nam chưa ráo mực tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lữa, từ ấy có hai lần về lại Hội An, mỗi lần chỉ ba, bốn ngày không gặp được ai, tuy vài năm Trần
Quý Cáp nhưng đó là quãng thời gian đẹp nhất trong đời. Nên từng đoạn cống bể Hội An, từng khuôn mặt bạn bè không khi nào phai mờ trong tâm trí, đặc
biệt khi nhìn thấy hoa phượng trong tranh ảnh hồn mình như tươi thắm lại giữa sân trường, dù tóc muối nhiều hơn tiêu, tuổi đời dư năm bó lớn . Trên đường
lữ hành nghe ai nói học trò Trần Quý Cáp liền lấn tới làm quen, và thấy thương ngay, tự nhiên nghe trong người khoe khoẻ!
Gần bốn thập niên xa trường, từ Bình Long, Bình Tuy, Pleiku, Phan Thiết, Long Thành, Kim Long Bà Rịa…
rồi tới Hoa Kỳ Washington DC Newyork, Texas, Florida, Cali, Georgia. Tennesssee. Lai rai ở đâu cũng gặp không thầy cô cũng bạn bè, đàn anh, đàn chị
Trần Quý Cáp.
Cú phone khác, cũng của bạn Hưng Cali, gọi vào đầu xuân Kỷ Sửu: Bút, mới hồi nãy Đông báo cho biết hắn sắp cưới vợ, mặt mày vợ nó sáng sủa lắm, có
nghề nghiệp vững: Giáo viên, nhà vợ quê ở Phong Thử, Điện Bàn.
Tôi hỏi; Sao mi biết mặt vợ nó, Hưng trả lời: Nó email cho tau.
Thôi được Hưng để mình hỏi xem Đông cần mình giúp những gì, bởi trên đất khách người thân không nhiều, nếu nó giao khoán anh em mình đứng ra lo, bây
giờ cần làm ngay Hưng gọi anh em đồng hương, và mấy bạn Trần Quý Cáp đánh động trước, tại Geogia mình cũng làm như vậy, đồng thời lên thông báo gởi
báo chí để mọi người biết, nếu không tham dự được bà con gọi điện thoại chúc mừng, thì cũng vui rồi. Nhất định không để đám cưới con em mình lẽ loi, từ
từ Đông gởi thiệp mời, Hưng với Bút chia ra gởi sau, tiếp đó Đông rất vui khi được bạn bè của ba mẹ đứng ra giúp đỡ, tất cả kế hoạch phát thảo đều được
chấp nhận kể cả nhà gái, chương trình đám cưới từ tư gia đến dạ tiệc nhà hàng đều được soạn thảo cẩn thận.
Gần xa anh em đều hưởng ứng, từ VN bạn Phan Xuân Anh, Canada Đỗ Xuân Sơn, Cali Trần Quang Hưng, Bùi Vĩnh An, Newyork Nguyễn Tài, Florida Đoàn
Nghi, Goeorgia ông Nguyễn Hữu Hy, ông Võ Văn Thống, ông Thanh Tùng, Ông Bút và Võ Thị Yến, , danh sách này ngoài ba vị cao niên Ông Hy, ông
Thống, ông Tùng, còn lại anh em chúng tôi cùng trang lứa khóa thi tú tài 2 IPM đầu tiên, và bỏ thi tú tài một, riêng ông Hy học trò Trần Quý Cáp niên khóa
1963
Đám cưới hai cháu
Huỳnh Phương Đông & Nguyễn Lê Mỹ Châu được diễn ra ngày 30 tháng 5 năm 2009 tại tiểu bang Missouri. Danh sách
trên đây lẽ ra dài hơn nhiều nhưng gặp thời buổi kinh tế suy trầm. mất job là nguồn đe dọa thường xuyên và nặng trĩu, nên lợt đợt “đào ngũ”. Còn lại chừng
phần tư
Hầu hết người tham dự đều là “đại biểu đương nhiên” của nhà trai, trước đó mọi người đã tham khảo, và đồng thuận 12 điểm trong chương trình được chia
làm ba phần: Trần Quang Hưng điều khiển từ mục số 1 – 4 Phan Xuân Anh từ 5 – 8 Ông Bút 9 – 12.
Các nơi anh em đến Missouri bằng máy bay, chỉ trừ đoàn Georgia đi xe, do Ông Bút (người viết bài này) lái, đoạn đường dài hơn 700 miles trên 400 miles
hướng về phía tây qua những xa lộ 24 w, 54 w 64 w chúng tôi đi vào buổi chiều, mặt trời cứ ở phía trước mặt, chiều dần xuống những ráng mây có khi vàng
hồng, có khi màu tím sắc hoa pensé, ai cũng tấm tắt khen “trời đẹp qúa” anh Tùng và Yến đem máy ra bấm lia lịa, lúc sẩm tối trở đi lòng tôi bồi hồi ghê lắm
cứ nghĩ bốn năm tiếng nữa sẽ gặp lại những thằng bạn thân sau ba, bốn chục năm chưa hề thấy mặt, kể cả Trần Quang Hưng chúng tôi từ khi đến Mỹ mạnh
ai nấy cày “gặp” nhau chỉ qua điện thoại mà thôi, Huỳnh Anh Cát cũng vậy rất may dịp đám cưới con cũng lò dò tới Mỹ, đi từ xứ Lòn Bon, cứ nhớ tới khuôn
mặt bạn bè tôi nhấn ga tối đa 90 - 95 miles/ giờ là bình thường, gặp đoạn kẹt xe ăn giang đường chạy ẩu, đã vậy trên điện thoại anh em luôn gào thét “Mầy tới
đâu rồi, còn mấy tiếng nữa,?”
12 giờ khuya tối thứ Sáu chúng tôi gặp nhau đầy đủ tại khách sạn Marriott - Missouri hàn huyên vội vàng nóng dòn, tiếng quê hương vang vang giữa xứ
người, xếp chổ ngủ cho mấy vị cao niên. Anh em xuống phố uống rượu, coi như đêm thức trắng kể chuyện trường xưa phố cũ, nói chuyện tiếu lâm, chúng
bạn hỏi: Ê, Cát mi bán mấy thúng sắn khô mua vé qua đây? Cát nói: Cả tỷ tỷ, dù đổi hết ruộng đồng, núi rừng, sông lạch, ao chôm của Đại Lộc lấy cuộc vui
này còn ân hận chi. Ha ha ha,
Vào tiệc cưới
Phan Xuân Anh chào mừng quan khách
Trần Quang Hưng giới thiệu quan viên hai họ, nghe dòng xuất xứ nhà trai đến từ xa lơ, xa lắc ai cũng ngạc nhiên vui ra mặt, Hưng thêm:
Kính thưa quý vị: Từ bốn thập niên trước anh em chúng tôi là Phan Xuân Anh, Trần Quanh Hưng và Ông Bút là học trò Trần Quý Cáp. Tuy không có vườn
đào để thề bồi, và dù quê hương trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm. Nhưng trời thương vẫn ưu ái cho cơ hội bên nhau. Như hôm nay đây anh em chúng tôi
được sự tín nhiệm của hai nhà sui gia cho phép điều hợp chương trình lễ thành hôn của hai cháu:
Huỳnh Phương Đông & Nguyễn Lê Mỹ Châu. Con trai của bạn Huỳnh Anh Cát người bạn học cùng lớp, chung trường. Qủa là một cơ hội hiếm có
Ông Bút trình bày về sự tích chữ Song Hỹ, tuy không nói ra nhưng người nghe vẫn biết ám chỉ cháu Huỳnh Phương Đông với Vương An Thạch (1) một
người vừa đổ đạt vinh quy vừa cưới được vợ đẹp! Thành gia thất, rồi kết luận: “Cháu Huỳnh Phương Đông được sinh ra trong một gia đình thanh bần, mẹ
cha đều là nhà giáo. Từ một miền quê liền với câu ca “Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn.” Thế nhưng với ý chí vượt khó, trong truyền thống hiếu học xứ
Quảng, cháu đã đến được kinh đô hoa lệ bậc nhất nhì của thế giới để cầu tiến.
Họ nhà gái:
Bà Phan Thuý Mai, như trên đã trình bày cũng người con dân đất Quảng, có hoàn cảnh khá éo le, ông chồng từ lâu lâm bệnh, nằm điều dưỡng ở Nusing
homes, một tay bà tần tảo, nuôi con đến ngày lớn khôn, dựng vợ gã chồng…Tiểu bang Missouri người Việt không đông ở rải rác, thưa thớt. Thế nhưng trong
tiệc cưới tại tư gia chật cứng, nhà hàng hết chổ ngồi, đồng hương Nam Trung Bắc - Việt Nam sum vầy thật đông đủ. Điều này cho phép chúng ta hiểu được
hằng ngày gia đình bà Mai sống rất đẹp với mọi người.
Cuộc vui nào cũng tàn, ngày vui rồi cũng qua. Trưa Chúa Nhật anh em chúng tôi mỗi người một xách kéo. Duị mắt, chia tay.
Xin cảm ơn cuộc đời đã cho một cơ hội trùng phùng, tao ngộ./.
                                                                                                            
                                    Ông Bút
(1) Chú thích Điển tích Song Hỷ:
- Trên đường lên kinh đi thi, Vương An Thạch ngang qua một nhà một vị quan có ra một câu đối, ai đối được sẽ gả con gái - một tiểu thư rất xinh đẹp & giàu
có (khoái quá). Câu đối được viết trên chiếc đèn kéo quân như sau:
"Tẫu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã bình bộ"
(đèn kéo quân này có vẽ một đàn ngựa, khi đèn quay thì ngựa chạy, đèn ngưng ngựa dừng). Vương An Thạch ghi nhớ câu đối này
- Lúc thi xong, khi trỏ vào lá cờ in hình con hổ bay phấp phới, vị giám khảo đùa với các thí sinh bằng câu đối:
"Kỳ phi hổ, phi hổ kỳ, kỳ quyển hổ tàng thân".
Vương An Thạch đáp lại ngay bằng câu tẩu mã ở nhà vị quan nọ. Vị giám khảo rất thán phục và có biệt nhãn với Vương.
- Sau đó Vương đỗ trạng nguyên, trên đường về quê, ngang nhà vị quan nọ, ông ta dùng câu "phi hổ" đối với "tẩu mã", rất chuẩn. Vị quan hết sức ngưỡng mộ
và gả con gái cho. Đám cưới diễn ra rình rang
- Vương An Thạch cùng một lúc có 2 niềm vui lớn: thi đậu và có được vợ (quá đã), nên thuận bút viết lên chữ SONG HỶ - hai chữ hỷ ghép vào nhau, vừa
đẹp mắt vừa giàu nghĩa, lại rất đơn giản. Ngay nay, vẫn còn tục lệ treo chữ song hỷ trong lễ cưới.
Ông Bút: là Cổ Bật tên giữ ngựa cho nhà vua, điển tích trong Cổ Học Tinh Hoa