NĂM 2010: NHẬN ĐỊNH CHUNG TÌNH HÌNH KINH TẾ
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 07.01.2010
Nhật Báo Anh FINANCIAL TIMES thứ Hai 04.01.2010 đăng ở trang 19 bài phỏng vấn một số những nhà Quản trị xí nghiệp lớn
Quốc tế dưới đầu đề SỰ NGHIÊM KHẮC LÀ TIẾNG NÓI CHÌA KHÓA KHI NHỮNG NHÀ QUẢN TRỊ ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH
CHO NĂM TỚI (Austeriry the Key word as Business Leaders plan for the coming year). Cũng Vậy, Nhật Báo LE MONDE thứ Ba
05.01.2010 đăng ở trang 13 bài phỏng vấn 5 nhà Quản trị xí nghiệp lớn của Pháp với đầu đề là HỒI PHỤC KINH TẾ NÀO CHO
2010 ? DỰ ĐÓAN CỦA 5 CHỦ XÍ NGHIỆP (Quelle eprise en 2010 ? Le Pronostic de cinq Patrons). Năm nhà Quản trị này thuộc
những ngành họat động khác nhau : Phân phối Hàng hóa, Sản xuất Xe Hơi, Bưu điện, Xây Cất và Chuyên Chở.
Nhận định của những
Nhà Quản trị như thế nào ?
Theo Nhật Báo FINANCIAL TIMES
Ong Michael O’LEARY, Chủ tịch Công ty Hãng Máy Bay hạ giá RYANAIR đã tóm tắt thái độ của các Xí nghiệp Tây phương bằng
những chữ « Phải nghiêm khắc về Chi tiêu ». Oâng đã gọi năm 2010 là năm rất bảo thủ (“2010 is a year to be very conservative“)
Ong Alan MIDDLETON, Giám đốc Điều Hành của Công ty PA Tư Vấn của Anh quốc, cảnh cáo rằng các Xí nghiệp phải lo tạo
dựng vững chắc Qũy lưu hành thường xuyên (Liquidité permanente) họat động, chứ không đầu tư xả láng và phiêu lưu.
Ong Feike SIJBESMA, đứng đầu Tập đòan DSM của Đức nói : »Qũy lưu hành thường xuyên và canh chừng chi tiêu là hai ưu tiên
trong suốt năm 2010 ».
Ong Michel DEMARE, Giám đốc Tài chánh của Tập đòan Điện ABB của Thụy sĩ, cho rằng mối quan tâm của những Xí nghiệp Liên
quốc gia là di chuyển một số đơn vị sản xuất sang những nước bắt đầu phát triển để giảm chi tiêu.
Một Phúc trình của Ngân Hàng UBS cho rằng trong năm một số những Xí nghiệp yếu sẽ bị mua và biến mất.
Theo Nhật Báo LE MONDE
Ong Michel-Edouard LECLERC, Chủ tịch Tập đòan Phân Phối Hàng Hóa LECLERC tuyên bố rằng năm nay 2010, Tiêu thụ vẫn còn
giảm sút. Năm ngóai, thụt giá từ 4% tới 0%. Nếu giảm giá vẫn tiếp tục, thì đây là sự ngưng họat động của một số nhà phân phối.
Ong Patrick PELATA, Tổng Giám đốc Hãng Renault, đưa ra ba yếu tố đình trệ: thứ nhất là Khả năng tài chánh tiêu thụ, thứ hai là sự
Tin tưởng của giới tiêu thụ vào Kinh tế (như vậy mới dám tin tưởng lấy Tín dụng tiêu thụ), thứ ba là sự Già đi của sản xuất Xe Hơi.
Ong Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện, nhận xét rằng việc Phục hồi Kinh tế rất khác nhau tùy theo từng Châu lục và việc Phục
hồi ấy khá chậm chạp cho Aâu châu, nhất là Pháp.
Ong Pierre-André De CHALANDAR, Tổng Giám đốc Tập đòan Xây Cất Saint-Gobain, nhận xét rằng năm 2009, họat động xuống
rất thấp và ông rất thận trọng cho năm 2010 vì chưa thấy dấu hiệu phục hồi nào.  Trong hệ thống liên đới sản xuất, Oâng lo ngại
cho những khó khăn của những Công ty nhỏ và Trung bình hợp tác làm việc xây cất với Tập đòan lớn của Oâng.
Ong Patrick MOLIS, Chủ tịch Hãng Chuyên chở Quốc gia, tuyên bố : »Năm 2010 sẽ rất bình lặng ở Pháp và Aâu châu, không có
phục hồi mạnh. Thất nghiệp tăng là vấn đề chính yếu. Nó ảnh hưởng tới phía Cầu tiêu thụ. Mặt khác, đừng quá trông chờ vào đà
phát triển của Trung quốc. Mức Tiêu thụ của 1.3 tỉ người Trung quốc chỉ tương đương với 15% mức Tiêu thụ của 300 triệu dân
Mỹ. Chính Aâu châu và Hoa kỳ mới kéo theo Đầu tầu Tiêu thụ của Thế giới. Tại Trung quốc, việc phục hồi mang tính cách giả tạo.
Họ đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào khả năng sản xuất, nhưng không có lối thóat tiêu thụ. Tại Aâu châu và đặc biệt tại Pháp, khuynh
hướng tổng quát là thắt chặt đồng lương và giảm nhân viên.... Những Công ty nhỏ và trung bình, nếu có khả năng tài chánh, phải
đầu tư để tạo công ăn việc làm. Những Xí nghiệp lớn thì tìm cách chuyển một số đơn vị sản xuất đi nơi khác, vì vậy giảm nhân viên
tại Pháp và tại Aâu châu.
Cắt nghĩa những nhận định bi quan cho năm 2010
Tổng quát mà nói, tình trạng đình trệ những họat động Kinh tế tùy thuộc vào phía CẦU tiêu thụ đúng như nghiên cứu của Kinh tế
gia John M. KEYNES, ông tổ của nền Kinh tế Tiêu thụ (Economie de Consommation). Chính Tiêu thụ kéo theo Sản xuất (La
Consommation mène la Production). Khi phía CẦU hàng hóa tăng, thì phía CUNG đầu tư để sản xuất. Phía Ngân Hàng, Tài chánh
tin tưởng và dễ dàng cho Tín dụng.
Anh hưởng tâm lý của cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế 2008/2009
Năm 2010 chưa quên Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh năm 2008 và Khủng hỏang Kinh tế năm 2009. Thực vậy, cuộc Khủng
hỏang Ngân Hàng/Tài chánh đi từ lý do quá dễ dãi của phía giữ vốn. Giới Ngân Hàng/Tài chánh tạo ra những sản phẩm tài chánh
riêng của họ để cấp Tín dụng và buôn bán những sản phẩm Tài chánh ấy để ăn lời cao và nhanh chóng trong Kỹ nghệ Tài chánh
riêng của họ (Industries Financìeres). Họ khuyến khích giới Tiêu thụ nhắm mát chi tiêu dựa trên Tín dụng dễ dãi, nghĩa là dựa trên
ngưỡng vọng thu nhập tương lai. Giới sản xuất cũng dễ dàng có vốn đầu tư để sản xuất quá nhiều hàng hóa. Tiêu thụ và Sản xuất
Kinh tế được thổi phồng lên như bong bóng mà những tác nhân Kinh tế như quên rằng đến một lúc nào đó bong bóng quá căng sẽ
nổ. Thực vậy, khi giới Tiêu thụ, phía CẦU, ý thức về tiêu thụ quá lố, hoặc cảm thấy những hiệu quả thỏa mãn (Effets de
Saturation), hoặc việc thu nhập tương lai không như ý hướng khả dĩ hòan Tín dụng, thì họ ngưng Tiêu thụ, giảm hẳn phía CẦU.
Phía Ngân Hàng/Tài chánh không thâu hồi được Tín dụng và vỡ nợ hoặc thắt chặt lại việc cho vay cho cả phía CẦU và phía CUNG.
Nền Kinh tế ngưng trệ, Khủng hỏang diễn ra.
Giữ thế thủ Tài chánh/ Kinh tế
Hình ảnh Khủng hỏang Ngân Hàng/Tài chánh và Kinh tế của những năm 2008/2009 vẫn còn sống trong đầu óc những nhà Quản trị
Xí nghiệp khiến họ phải giữ những thận trọng cho năm 2010 như những phát biểu ở trên đây từ những Nhà Quản trị. Sự thận trọng
bao gồm những điểm sau đây :
1) Giữ số vốn lưu hành chắc chắn để bảo đảm việc xoay sở những họat động của Xí nghiệp (Solvabilité).
2) Chắt bóp và căn cơ việc chi tiêu để có thể làm cho lợi nhuận tăng và do đó có tiền cho vào Qũy lưu hành (Liquidité) và Qũy dự
trữ (Réserves). Không thể chi tiêu xả láng như trước với Tín dụng được dễ dàng cho bởi phía Ngân Hàng và Tài chánh.
3) Khi Kinh tế đi lên, các Xí nghiệp lạc quan và chi tiêu cho sản xuất. Khi Kinh tế đi xuống, thì các Xí nghiệp lo lắng về quản trị Chi
tiêu ( Gestion des Dépenses, des Couts). Ở giai đọan khó khăn về tiền bạc, thì phải thắt lưng buộc bụng khi tiêu xài.  Theo Paul
SAMUELSON, ở một Thế giới cạnh tranh Kinh tế/Thương mại, khỏang cách lợi nhuận có khuynh hướng triệt tiêu, nên việc sống
còn của Xí nghiệp tùy thuộc vào Quản trị Chi tiêu.
4) Chính vì lo lắng về quản trị Chi tiêu, mà các Xí nghiệp hướng về việc tái xử dụng những phương tiện sản xuất sẵn có. Trước khi
đi mua cây bút chì mới, thì lục sóat trong ngăn kéo xem mình còn nửa cây bút chì gẫy chưa dùng hay không.
5)  Cũng chính vì mối quan tâm quản trị Chi tiêu mà các Xí nghiệp chưa vội mướn thêm nhân công, đồng thời tìm cách chuyển
những đơn vị sản xuất đến những nước có nhân công rẻ. Đây là lý do làm tăng thất nghiệp tại các nước đã Kỹ nghệ hóa : Hoa kỳ,
Aâu châu, Pháp mà các nhà Quản trị trên đây đã đề cập tới.
6) Khi số thất nghiệp tăng, thì Kinh tế lại đi vào vòng luẩn quẩn. Tăng thất nghiệp có nghĩa là Thu nhập của giới Tiêu thụ giảm. Thu
nhập giảm, thì phía CẦU giảm tác hại lên chính phía CUNG. Henry FORD đã áp dụng một chính sách lương bổng nâng đỡ phía CẦU
khi Oâng nói:“Tôi trả lương hậu cho thợ để họ có tiền mua xe hơi mà tôi sản xuất“. Việc tăng thất nghiệp hiện nay, nhất là giới trẻ,
làm giảm phía CÂU, sẽ tác hại lên chính phía sản xuất.

7)   Một lý do nữa là giảm phía CẦU từ phía Nhà Nước. Các Nhà Nước của những Quốc gia đã Kỹ nghệ hóa đều thâm lạm Ngân
Sách có tính dài hạn. Việc thâm lạm này là để cứu giới Ngân Hàng/Tài chánh. Chi tiêu Nhà Nước (Dépenses Publiques) chiếm vai
trò khá quan trọng cho phía CẦU. Nhưng khi Ngân sách thâm lạm, thì tất nhiên Nhà Nước không thể chi tiêu, do đó làm giảm thên
phía CẦU.
Thử nghĩ đến một vài đề nghị tích cực
1)  Đầu tư vào những Công ty nhỏ và trung bình
Những nhận định bi quan trên đây đến từ những nhà Quản trị những Xí nghiệp lớn Liên quốc gia (Multinationales). Lời khuyên của
Oâng Patrick MOLIS, Chủ tịch Tập đòan Chuyên chở Quốc gia Pháp là một trong những giải pháp cho tình trạng đình trệ và luẩn
quẩn hiện nay. Đó là những Công ty Nhỏ và Trung bình đầu tư tạo công ăn việc làm. Chúng ta đã có kinh nghiệm của nước Ý cách
đây 30 năm trước. Thực vậy, cách đây 30 năm, Kinh tế Ý dựa trên những Tập đòan lớn và hậu quả là dân thất nghiệp đình công.
Từ những đại Xí nghiệp, Kinh tế Ý đã chuyển sang tiểu Xí nghiệp Gia đình để cứu vãn tình hình.
2)  Đầu tư vào phương diện sáng tạo Kỹ thuật. Đây là ý tưởng của Oâng Jean-Paul BAILLY, Chủ tịch Bưu Điện Pháp. Oâng tuyên
bố:“La crise des années 2008 et 2009 accélérera les innovations et les mutations technologiques, ce qui permettra une meilleure
compétitivité des entreprises“ (LE MONDE 05.01.2010, page 13) (Khủng hỏang những năm 2008 và 2009 sẽ làm tăng tốc độ
những sáng chế và những hóan chuyển kỹ thuật, điều cho phép tính cạnh tranh tốt nhất của những xí nghiệp). Thực vậy, những
sáng chế thường phát xuất từ những trường hợp khó khăn, bế tắc mà người ta phải cố gắng tìm lối thóat.
Không thể quá tin tưởng vào đà phát triển Trung quốc
Đây là ý kiến của Oâng Patrick MOLIS. Thực vậy, cái nhìn của Thế giới vào Kinh tế Trung quốc là theo nhãn quan của nền Kinh tế
Tự do và Thị trường. Thế giới làm Kinh tế trong khung cảnh một Xã Hội Dân chủ, nghĩa là Kinh tế thuộc về Dân. Trong khi đó,
những họat động Kinh tế của Trung quốc thuộc về một nhóm đảng giữ quyền độc tài. Đây là Kinh tế của một nhóm Mafia hòan
tòan giữ quyền quyết định độc tài. Thế giới nhìn vào Kinh tế Trung quốc và vẫn tưởng rằng đó là phát triển Kinh tế giống như ở Xã
hội Dân chủ Tây phương.
Nền Kinh tế Mafia với quyền Chính trị độc tài mang những đặc tính sau đây:
1)  Nhà Nước độc tài hòan tòan nắm vốn đầu tư. Những Xí nghiệp lớn nắm 90% sinh họat Kinh tế và do Nhà Nước cấp vốn. Nếu
có 10% do vốn tư nhân, thì những công ty nhỏ tư nhân này cũng lệ thuộc vào những quyết định của những đại công ty Quốc
doanh làm việc cho đảng.
2)  Sinh họat Kinh tế của Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng để thu nhập nhanh cho Nhà Nước. Ông Patrick MOLIS nói rất đúng,
mức tiêu thụ của 1.3 tỉ dân Trung quốc chỉ bằng 15% mức tiêu thụ của 300 triệu dân Mỹ. Khi mà Âu châu và Hoa kỳ, vì khó khăn
Kinh tế, giảm thiểu tiêu thụ, thì ảnh hưởng trực tiếp là làm giảm xuất cảng của Trung quốc.
3) Với độc tài Chính trị, 90% Công ty Nhà Nước đã khai thác nhân lực Trung quốc như những nô lệ sản xuất để phục vụ thu nhập
xuất cảng cho nhóm Mafia đảng Cộng sản Trung quốc. Những thu nhập cho đảng và cho túi riêng của đảng viên là giá mồ hôi
nước mắt của khối dân không lồ Trung quốc bị Chính trị độc tài bắt ép làm việc với đồng lương rẻ mạt.
4)  Nền Kinh tế Trung quốc ăn xổi ở thì, thu nhập mau, nhưng không quan tâm đến những ô uế môi trường. Dân chúng vừa bị khai
thác nhân lực, vừa phải chịu những ô uế môi trường trong lâu dài. Tại Hội Nghị Copenhague, nếu có ai ngạc nhiên thấy thái độ
khăng khăng của Trung quốc không muốn ai nhòm ngó, kiểm sóat việc phóng khí độc, thì phải hiểu rằng đây là một hệ thống sản
xuất mà nhóm đảng Mafia cố thủ giấu kín. Ai chết mặc ai, miễn là đảng thu nhập nhanh chóng. Tỉ dụ mới đây nhất là ống dẫn dầu bị
vỡ và dầu chảy loang làm ô uế sông Hòang Hà. Nhà Nước và Báo đài giấu diếm.
5)  Những Chương trình kích cầu kinh tế không nhằm khối dân tiêu thụ Trung quốc. Ông Patrick MOLIS gọi đây là những Chương
trình có tính cách giả tạo:
*  Chi tiêu vào Hạ tầng cơ sở. Với xứ sở mênh mông, hạ tầng cơ sở không thể xây dựng nhanh chóng với số vốn bỏ ra tương đối
nhỏ bé. Đảng Mafia chỉ lo những thành phố ven biển và xây cất nhà cửa giống như Dubai để làm vẻ vang cho đảng, chứ không phải
cho dân.
*  Canh tân một số những cơ sở sản xuất bởi vì thiết bị sản xuất lúc đầu là những máy móc “second hand” mua lại rẻ từ Tây
phương, nhưng Ông Patrick MOLIS nhận xét luôn rằng sản xuất mà Trung quốc không có ngõ ra tiêu thụ (capacités de production,
mais sans débouchés). Tiêu thụ Hoa kỳ và Âu châu giảm xuống, tiêu thụ nội địa Trung quốc thì không được đầu tư, do đó không
có lối thóat tiêu thụ (sans débouchés).
* Kinh tế Trung quốc thuộc về nhóm Mafia đảng, mà đảng muốn giữ quyền độc tài và không muốn chuyển Kinh tế sang tay Dân.
Đầu tư tăng khả năng tiêu thụ cho Dân, đó là sự chuyển hướng Kinh tế về Dân, điều mà nhóm Mafia đảng không muốn vậy. Muốn
giữ độc tài Chính trị, thì phải giữ vững độc quyền Kinh tế. Khối Dân Trung quốc gồm 1.3 tỉ người. Đảng CSTQ nắm số vốn lớn do
sự bóc lột sức lao động của khối Dân ấy mà có. Nhưng đảng không muốn bỏ vốn nâng cấp Khả năng Tiêu thụ (Pouvoir d’Achat)
cho khối Dân đó để Kinh tế Trung quốc trở thành độc lập, không lệ thuộc vào lo lắng giảm sút đặt hàng từ nước ngòai. Đảng biết
rằng khi nâng cấp khả năng Tiêu thụ cho Dân chúng, tức là bắt đầu Tiến trình Dân chủ hóa Kinh tế. Dân chủ hóa Kinh tế là bước
chắc chắn nhất để phế bỏ độc tài Chính trị. Khi Dân nắm vững Kinh tế trong tay, thì họ có thể tuyên bố:”Trước đây thì nhất sĩ
(Chính trị), nhì nông (Kinh tế), nhưng hết gạo chạy rông, thì nhất nông (Kinh tế) nhì sĩ (Chính trị)”. Dân chủ hóa Kinh tế là một sự
nhượng quyền Chính trị (đảng) bó buộc vậy.

NĂM 2010:- KINH TẾ MỸ SUY THÓAI LẦN HAI ?
Paul Krugman:
Kinh tế gia đoạt giải Nobel, ông Paul Krugman, cho rằng khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái lần hai ở thời điểm nửa sau năm
2010 khi ảnh hưởng từ kế hoạch kích cầu tài khóa và tiền tệ của Chính phủ Mỹ kết thúc là 30%.
Paul Krugman nhận định kinh tế Mỹ có thể rơi vào suy thoái lần hai trong năm 2010.
Trong bài phát biểu mới nhất tại hội nghị kinh tế ở Atlanta, ông nói: “Khả năng suy thoái kinh tế lần hai đến là 30 - 40% - tỷ lệ không
hề thấp. Khả năng tăng trưởng kinh tế chững lại khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên cũng không nhỏ”.
Kinh tế gia 56 tuổi này nhận định tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chững lại khi FED chấm dứt việc mua các loại chứng khoán, kế hoạch
787 tỷ USD của chính quyền Tổng thống Obama giảm bớt, các công ty ngừng khôi phục lại hàng tồn kho.
Giáo sư kinh tế thuộc Đại học Princeton, ông Krugman, đã cùng giáo sư kinh tế Martin Feldstein thuộc Đại học Harvard, giáo sư
kinh tế Joseph Stiglitz của Đại Colombia, lên tiếng cảnh báo về nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Dù việc các công ty đẩy mạnh khôi phục hàng tồn kho đã giúp kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ trung bình năm đạt 4% trong quý
4/2009, ông Krugman nhận định tốc độ tăng trưởng năm nay sẽ chỉ quanh mức 2%, rủi ro kinh tế đi xuống ở thời điểm nửa sau của
năm là hoàn toàn có thể.
Dự báo của ông Krugman như vậy u ám hơn nếu so với dự báo của 58 chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg vào đầu
tháng 12/2009.
FED có kế hoạch ngưng chương trình 1.250 tỷ USD mua chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp và dừng chương trình 175 tỷ USD
mua nợ liên bang vào tháng 3/2010, theo ông Krugman, lãi suất thế chấp sau đó có thể tăng, doanh số và giá nhà đất có thể hạ trở
lại.Ông Krugman cho rằng FED nên cân nhắc mua thêm 2.000 tỷ USD tài sản để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Krugman cho biết, ông không đồng ý với quan điểm của cựu Chủ tịch FED Alan Greenspan về việc thị trường chứng khoán tăng
điểm trong năm qua cho thấy nền kinh tế không cần thêm kế hoạch hỗ trợ từ chính phủ. Chỉ số S&P 500 tăng 23% trong năm 2009
và như vậy có năm tăng điểm mạnh nhất từ năm 2003.
Krugman nhận xét: “Hiện nay người ta nghèo hơn 4 năm trước, tiêu dùng người dân không phụ thuộc vào giá cổ phiếu mà phụ
thuộc vào giá nhà đất”. Ông nói: “Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần hai hiện hữu tại phần lớn các nền kinh tế phát triển thuộc
châu Á và châu Âu”.
Ông cũng dự báo đồng USD có thể suy yếu nhẹ so với đồng tiền của một số nền kinh tế khác thuộc nhóm nước phát triển: “Sự suy
yếu của đồng USD tốt cho chúng ta, tuy nhiên không tốt đối với nước thuộc châu Âu và Nhật”.
Krugman nhận xét về kinh tế Mỹ: “Thông thường khủng hoảng tài chính thường kéo dài, Dù hệ thống ngân hàng Mỹ đã ổn định,
tình hình của ngành ngân hàng vẫn chưa trở lại bình thường”
NĂM 2010:-THẶNG DƯ TQ CÓ THỂ GIẢM MẠNH
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi mà Trung Quốc đang có xu hướng nhập khẩu
tăng do nhu cầu trong nước tăng mạnh.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể giảm xuống 19% trong năm 2010 khi xu hướng nhập khẩu tăng.
Trong năm 2010, nhập khẩu có thể tăng tới 16%, vượt qua mức tăng 8% của xuất khẩu. Trong khi đó, nền kinh tế nước này dự
báo sẽ tăng trưởng 10,1%.
Bộ Thương mại Trung Quốc cho hay rằng mức thặng dư thấp hơn có thể khiến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thứ 3 thế giới
này giảm xuống so với các đối tác thương mại chủ chốt. Trước đó Trung Quốc đã hướng tới nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Theo ông Lu Ting, nhà kinh tế trụ sở tại Hồng Kông nhận định số lượng hàng nhập về sẽ thu hẹp lại còn 160 tỷ USD so với ước tính
198 tỷ USD năm nay.
“Yếu tố then chốt trong việc thu hẹp thặng dư sẽ là mức tăng trong nhập khẩu nhờ vào nhu cầu trong nước”, ông Lu cho biết.
Nhập khẩu trong tháng 11/2009 cũng đã tăng lên lần đầu tiên trong 13 tháng qua, tăng lên mức 27% do gói kích cầu kinh tế và
khoản cho vay kỷ lục của Chính phủ đẩy nhu cầu chi tiêu tiêu dùng của người dân lên cao.
Bên cạnh biện pháp đẩy căng thẳng thương mại xuống, khoản thặng dư thấp hơn có thể khiến chính sách tiền tệ hiệu quả

NĂM 2010:- HÕAN TỰ DO MẬU DỊCH- TRUNG QUỐC-ASEAN
2010 mở đầu Tự do Mậu dịch với TQ, nhưng ASEAN muốn hõan?
Trang web tiếng Trung và Anh về Khu vực Tự do Mậu dịch với Asean. Chỉ vài ngày sau khi Khu vực Tự do Mậu dịch Trung Quốc-
Asean khai trương, Indonesia đã đề nghị hoãn lại việc thực hiện trong lúc giới doanh nghiệp Thái Lan, Philippines cũng nói hiệp định
có hại cho họ.
Theo báo Jakarta Post hôm nay 5/1/2010, Bộ trưởng Thương mại Indonesia vừa đưa ra đề nghị hoãn việc áp dụng chế độ cắt giảm
thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định tự do thương mại với Trung Quốc, gọi tắt là AC-FTA hoặc CAFTA. Theo các thỏa thuận
đã ký từ trước, năm 2010 mở ra một khu vực tự do mậu dịch giữa Trung Quốc và sáu nước chủ chốt của Asean là Singapore,
Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei. Những nước kém phát triển hơn về kinh tế trong Asean gồm Việt Nam, Lào,
Campuchia và Miến Điện dự kiến sẽ tham gia khu vực tự do mậu dịch vào 2015.
Nhưng nay, Bộ trưởng Mohamad Suleman Hidayat của Indonesia thông báo chính phủ nước ông đã gửi lên ban lãnh đạo khối Asean
đề nghị hoãn lại việc cắt giảm thuế nhập đồng thời muốn "đàm phán lại".
Chính Trung Quốc cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean.
Từ mấy tuần qua, báo chí các nước trong vùng đã nói Bấm Khu vực Tự do Mậu dịch với Trung Quốc "gây hại cho doanh nghiệp
và xuất khẩu" của Asean.
Báo Philippine Star trong tháng 12/2009 có bài cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỉ giá đồng nhân dân tệ như hiện nay khiến hàng
xuất khẩu của Asean chịu thiệt hại nặng.
Nay, doanh nghiệp các nước khác trong Asean cũng lên tiếng.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa kiều Malaysia (ACCCIM), ông Tan Sri William Cheng nói với báo chí nước này
rằng chính Trung Quốc "cũng hiểu rằng tự do hóa thị trường một cách toàn diện có thể tác động xấu đến Asean".
Theo báo Indonesia, thỏa thuận AC-FTA, mức thuế quan không phần trăm đươc áp dụng cho 17 khu vực kinh tế nước này, gồm
12 trong ngành sản xuất, năm trong ngành nông nghiệp, khai khoáng và cả hải sản.
Thiệt nhiều hơn lợi?
Điều Asean lo ngại là hàng rẻ nhập từ Trung Quốc. Bộ trưởng Công nghiệp Indonesia Mohamad Suleman Hidayat nói rằng cần đàm
phán lại để "hàng hóa nhập khẩu rẻ không tràn vào làm lụt thị trường mà không bị ngăn chặn".
Còn ông Tan Sri William Cheng tin rằng nếu các vấn đề không được giải quyết thì Khu vực Tự do Mậu dịch sẽ "có nhiều điểm cản
trở hơn là thuận lợi".
Dù ngoại giao với Bắc Kinh tiến triển, doanh nghiệp Malaysia lo bị thiệt vì hàng Trung Quốc. Ông cũng nói ngoài ngành xe hơi được
chính phủ Malaysia bảo vệ chặt chẽ, các ngành công nghiệp khác sẽ gặp khó khăn khi thuế nhập hàng từ Trung Quốc xuống không
phần trăm.
Dù chính giới Indonesia tiết lộ rằng các bên đã "trao đổi không chính thức" và họ sẽ tìm cách "đàm phán lại vào cuối năm nay", phía
Trung Quốc chưa thấy nói gì về việc áp dụng FTA với Asean. Cho tới nay, Trung Quốc chỉ cam kết bỏ ra 10 tỉ USD vào các dự án
xây cất đường xá và cơ sở hạ tầng tại Asean, với mục tiêu nâng cao hiệu năng của trao đổi thương mại.
Bấm Việt Nam, nước chủ tịch Asean năm 2010, đã tự có động thái là phá giá đồng tiền của mình để "tự vệ" và kích thích hàng xuất
khẩu.Hiện chưa thấy Việt Nam lên tiếng trước các phát biểu của lãnh đạo và doanh nghiệp Asean trong việc tìm đối sách với Trung
Quốc khi AC-FTA có hiệu lực.Giới trí thức người Việt tuy thế đã lên tiếng cảnh báo về việc áp dụng các quy chế tự do mậu dịch
với Trung Quốc.
Theo Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Nhật Bản thì năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ bằng 29%
kim ngạch nhập khẩu từ nước này và riêng nhập siêu với Trung Quốc chiếm 60% tổng nhập siêu của Việt Nam, một yếu tố gây bất
ổn định kinh tế vĩ mô từ nhiều năm nay.
Bấm Trong bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông cho rằng theo Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2015 Việt Nam
sẽ bãi bỏ thuế quan đối với hàng từ Trung Quốc, lúc đó tác động của kinh tế Trung Quốc đối với Việt Nam còn mạnh mẽ hơn hiện
nay. Nguy cơ cho Việt Nam, theo chuyên gia Việt kiều này chính là "cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, trong đó các nước đi sau
không nỗ lực cải cách và có chiến lược phát triển thích hợp sẽ sa vào bẫy làm cố định cơ cấu kinh tế và ngoại thương hiện tại, và
do đó có khả năng không thể công nghiệp hóa"
Tiếng nói của người Việt còn thao thức với quê hương
Chủ Trương:
Tòa Soạn: 678-770-1497
Đọc và quảng bá
báo Hồn Nước!

Hồn Nước, tờ báo của tri thức
Quảng cáo trên tạp chí Hồn Nước
Thương hiệu của bạn
khắp nơi đều biết
Email: tapchiHonNoc.com
Or:     hiepnguyen930@yahoo.com
Cell:   678-770-1497
Cung Chúc Tân Xuân
Tạp Chí